SỰ HIỆN DIỆN CỦA ĐỨC MARIA NƠI TIỆC CƯỚI CANA

DẪN NHẬP

Trải qua dòng chảy lịch sử cứu độ, người phụ nữ xem ra ít được nhắc đến nếu không muốn nói là họ gần như bị lãng quên. Phải chăng họ yếu kém, chẳng làm được gì hay chẳng được Thiên Chúa đoái thương? Hay họ ẩn danh để Thiên Chúa được vinh danh nơi họ? Nhưng một người phụ nữ đã xuất hiện: “khi đến thời viên mãn, Thiên Chúa sai con mình đến sinh làm con một người đàn bà” (Gl 4,4). Người đàn bà này chắc hẳn là rất đặc biệt và đóng vai trò quan trọng trong công trình cứu độ của Thiên Chúa. Người đàn bà này cũng luôn ẩn danh sau Con của mình, đến nỗi trong Tin mừng thứ tư gọi là Thân Mẫu Đức Giêsu. Bà hiện diện với, cùng và trong Giêsu. Đặc biệt, Bà đã hiện diện cách tuyệt hảo tại Cana miền Galilê năm xưa.

Bà đã hiện diện trọn vẹn nơi một biến cố cụ thể trong cuộc đời Bà. Còn tôi thì sao? Nhìn vào cuộc đời và nhìn lên bầu trời, những đám mây vô danh nhưng không ngoài sự quan phòng của Thiên Chúa. Từ đó, tôi nghĩ về sự hiện hữu của mình trong cuộc đời. Đồng thời, tôi nhận ra sự hiện diện của mỗi người không như những đám mây trôi vô tình, nhưng là sự hiện diện luôn có và để lại những dấu ấn, ảnh hưởng trên không gian, thời gian, lịch sử và luôn hiện diện trước Đấng Tạo Hóa. Mỗi sự hiện diện mang một thông điệp của Thiên Chúa cho cuộc sống đặc biệt của những người xung quanh, những người được tiếp xúc. Sự hiện diện nào cũng khởi đi từ Thiên Chúa nên đều quan trọng. Vì thế, hạnh phúc cho ai tìm được ý nghĩa sự hiện diện của mình.

Cùng với thao thức trong khi làm công việc phục vụ bệnh nhân tại bệnh xá Mân Côi, người viết cảm nhận được nỗi đau đớn thân xác, sự bất lực của con người. Nhìn người khác đau đớn trong bệnh tật, những hoàn cảnh bi đát của cuộc sống, tôi thấy lòng mình thổn thức, vì kinh nghiệm còn non nớt, khả năng phục vụ còn giới hạn… Tôi phải đối diện thế nào đây? Càng bất lực, tôi lại càng khao khát hướng về sự hiện diện của Thiên Chúa và nghĩ về sự hiện diện của mình. Rồi nơi cộng đoàn, sống giữa các chị em, tôi có biết họ đang cần gì, thiếu gì? Thế thì Chúa đặt để tôi nơi đây để làm gì?

Bài luận này được thực hiện với ước mong sự hiện diện của mỗi chúng ta mang lại an ủi, bình an và hạnh phúc cho người khác. Đó là cách thế chúng ta hiện diện cùng và với người khác để mang rượu đến cho cộng đoàn. Sự có mặt của chúng ta phải luôn theo thánh ý Thiên Chúa và làm vinh danh Thiên Chúa hơn.

1. Lý do chọn đề tài:

Đã từ lâu, Đức Nữ Trinh Mân Côi luôn là thao thức, đối tượng tìm hiểu của người viết. Hơn nữa, với khao khát được yêu Đức Maria hơn những gì mình đã dành cho Mẹ, nên tư tưởng được nuôi dưỡng và quyết tâm có một đề tài nghiên cứu về Mẹ, để biểu lộ tấm lòng người con thảo dành cho khuôn mẫu lý tưởng của mình.

Đồng thời, sự hiện diện của Mẹ nơi tiệc cưới Cana toát lên sự cộng tác đắc lực của Mẹ trong chương trình cứu độ của Đức Giêsu. Vậy người viết có đi cùng Mẹ với sự hiện hữu của mình không? Sự hiện diện của Mẹ nơi Cana cũng mở ngỏ cho người viết về sự hiện diện của mình trong tiệc cưới cuộc đời.

2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Khi nghiên cứu bài tiểu luận này, người viết nhắm tới đối tượng là Thân Mẫu Đức Giêsu trong Tin mừng Gioan, đặc biệt sự hiện diện của Mẹ tại nơi diễn ra dấu lạ đầu đời của Con Thiên Chúa trong bản văn Ga 2,1-12. Người viết ước mong làm nổi bật sự cộng tác của Mẹ trong chương trình cứu độ nơi tiệc cưới Cana. Qua sự hiện diện của Mẹ, nơi một biến cố quan trọng trong cuộc đời một con người, chúng ta nhận ra vai trò trung gian của Mẹ. Tuy vậy, với khả năng của người viết, chắc hẳn chưa làm rõ nét hình ảnh đẹp vốn có mà Thiên Chúa ban cho Mẹ. Nhưng với hy vọng sẽ mang đến cho người đọc, đặc biệt với con cái Mẹ Mân Côi đã chọn mầu nhiệm thứ hai mùa Sáng, một ý tưởng nào đó để suy niệm và sống theo Mẹ: “Ta hãy xin cho được noi gương Đức Mẹ mà vững tin vào Chúa“.

3. Mục đích chọn đề tài

Qua bài nghiên cứu về Đức Trinh nữ Maria, Thân Mẫu Đức Giêsu, người viết không ngoài mục đích là để chính chủ thể hiểu biết, yêu mến và bắt chước các nhân đức của Mẹ. Từ đó, tinh thần Mân Côi được thấm nhuần trong cuộc sống với một cách thức mới, để có thể làm tông đồ cho Mẹ trong việc truyền bá kinh Mân Côi và qua Mẹ đến với Con của Mẹ là Đức Giêsu Kitô. Qua việc đào sâu về sứ vụ công khai của Đức Giêsu, dõi theo mẫu gương toàn hảo về sự hiện diện của Mẹ nơi mầu nhiệm thứ hai mùa Sáng, người viết nhận ra sự hiện diện trong tương quan với Chúa, với cộng đoàn và với chính mình và xác tín ơn gọi của mình nơi Hội dòng mang tên Mẹ: Dòng Chị Em Con Đức Mẹ Mân Côi Bùi Chu, cùng sống triệt để Linh đạo Dòng:

Cùng Mẹ Maria sống mầu nhiệm cứu độ

Và đem ơn cứu độ đến cho mọi người“.

Ngoài ra, đây là công trình đầu tay mà người viết muốn dâng kính lên Đức Maria là mẹ, là đấng bảo trợ cho cuộc đời và cho bài nghiên cứu của mình.

4. Phương pháp nghiên cứu

Ngoài phương pháp tổng hợp, phân tích làm nổi bật đề tài, người viết mượn lời văn của các tác giả để diễn tả ý tưởng mà mình muốn trình bày. Cùng với phương pháp chứng minh, với suy tư của bản thân, kinh nghiệm được góp nhặt của những người tiếp xúc trong cuộc sống, đặc biệt, qua các tài liệu đậm chất thần học, các văn kiện, giáo huấn của Giáo hội để tiếp cận với Mẹ, suy tư về Mẹ. Trong quá trình viết về Mẹ, người viết để mình đi vào và sống trong sự hiện diện của Mẹ, cầu nguyện cùng Mẹ và nhận thấy một sự thúc đẩy đi tìm ý tưởng mới, tìm Đức Giêsu Kitô nơi Mẹ.

  1. Cấu trúc phát triển đề tài

Bố cục: Ngoài phần Dẫn nhập và phần Kết luận, bài tiểu luận gồm ba chương:

CHƯƠNG I: Tiệc cưới Cana Ga 2,1-12

 Để có những viên gạch sống động kiên vững đứng bên nhau và tiếp tục được xây cao lên tới đích điểm thì chắc chắn cần có một nền nhà vững chắc. Người viết, khởi đi từ nguồn Kinh thánh làm nền tảng, từ việc khai tìm về vùng đất kinh thánh Cana, về dấu lạ đầu tiên của Đức Giêsu. Để nối kết với tư tưởng chính, người viết giới thiệu danh tánh Thân Mẫu Đức Giêsu.

CHƯƠNG II: Sự hiện diện của Thân Mẫu Đức Giêsu nơi tiệc cưới Cana

Trình bày các yếu tố thần học về Thánh mẫu qua đó làm nổi bật ý nghĩa sự hiện diện, vai trò của Thân Mẫu Đức Giêsu trong tiệc cưới và biểu tượng của Thân Mẫu từ tiệc cưới đến đồi thập giá Calvê.

CHƯƠNG III: Đức Maria nêu gương về cách thế hiện diện cho người nữ tu hôm nay

 Cách thế hiện diện cũng đồng thời là chính con người của Mẹ. Đó là Đức Maria. Con người Mẹ là suy nghĩ của Mẹ, là lời Mẹ nói, là hành động đồng thời cuộc đời của Mẹ. Vì thế, Mẹ luôn là khuôn mẫu cho sự hiện diện của mọi nữ tu trong thời đại hôm nay, cách riêng cho người nữ tu mang danh con cái Mẹ Maria Mân Côi.

 

CHƯƠNG I

TIỆC CƯỚI CANA GA 1,1-12

  1. Cana- miền đất dấu lạ

Khác với Tin Mừng Nhất Lãm, các phép lạ trong Tin Mừng thứ tư được gọi là các dấu lạ. Điều này không phủ nhận quyền năng lạ thường của Đức Giêsu, nhưng khi dùng dấu lạ, tác giả muốn biểu thị một thực tại khác cao vời hơn, không chỉ dừng lại ở bề mặt nhưng phải đi xa hơn, sâu hơn để gặp chính Tác giả của dấu chỉ. Gioan không có những bản tổng lược để tóm tắt một số lớn các phép lạ để giải thích sự hâm mộ của quần chúng Galilê như trong Nhất Lãm. Ông chỉ kể lại vỏn vẹn 7 dấu lạ nhưng thường quảng diễn rộng rãi và gán cho chúng một ý nghĩa tượng trưng. Thí dụ:

  • Nước hóa thành rượu tại Cana (Ga 2,1-12)
  • “dấu lạ thứ hai tại Cana”: chữa lành đứa con của viên chức triều đình (Ga 4,46-54)
  • Chữa lành người bất toại ở hồ Betzatha (Ga 5,1-18)
  • Mở mắt kẻ mù từ lúc mới sinh (Ga 9,1-41)
  • Cho Lazarô chết sống lại (Ga 11,1-44)
  • Chỉ có hai phép lạ “bánh hóa nhiều” và “đi trên mặt nước” (Ga 6,1-21) mới có những đoạn song song với Nhất Lãm.

Như chúng ta thấy, chỉ có 7 dấu lạ nhưng 2 trong 7 dấu lạ đó được thực hiện tại Cana miền Galilê. Điều đó không thể là sự vô tình hay ngẫu nhiên nhưng có thể nói Cana có tầm quan trọng trong sứ vụ công khai của Chúa Giêsu. Hai dấu lạ đầu tiên của Chúa Giêsu đã thay đổi “vận mạng” của Cana, biến nơi đây trở thành miền đất của các dấu lạ.

Cả hai dấu lạ tại Cana đều có kết cấu giống nhau:

  • Lời cầu xin
  • Lúc đầu Chúa từ chối
  • Khẩn khoản nài xin
  • Dấu lạ công khai
  • Kết quả: TIN vào Đức Giêsu

1.1. Vị trí địa lý

Cana theo tiếng Hi Lạp: Κανὰ/ Kana có lẽ từ Hè, quànâ, “bãi sậy”, một làng Galilê (để phân biệt với Cana thuộc miền Coelo) xứ Palestine nằm trên đồi cao 256m, từ Cana tới Carphanaum là đi xuống và khoảng cách giữa hai thị trấn là 20km[1]. Vị trí này, nơi có những cuộc khai quật, có lẽ là nơi các sự kiện trong Gioan 2,1-12 có những dòng nước phong phú và đem lại những cây vả râm mát được nhắc đến trong Ga 1,48[2].

Theo sử liệu thánh Giêrônimô, người từng ở Palestine bảo rằng từ Nazaret, ngài có thể nhìn thấy Cana[3].

Trong Tân ước, làng này chỉ được mình Gioan nói tới, là quê hương của Nathanael (x. Ga 21,2). Đây là nơi Đức Giêsu thực hiện dấu lạ đầu tiên hóa nước thành rượu (x. Ga 2,1-12) cũng là nơi mà với một lời tuyên xưng đức tin, Ngài đã chữa lành cho con trai một viên sĩ quan đang nằm trên giường bệnh tại Capharnaum (Ga 4,46-50). Đa số các học giả đặt ở Khirbet Qana.

Khirbet Qana, có nghĩa là ‘những tàn tích của Cana’. Nó nhìn ra Thung lũng Beit Netofa từ phía bắc và cách Kafr Kanna 9 km về phía Bắc và cũng được chú ý bởi những người hành hương từ thế kỷ 12 trở về trước. Các bằng chứng lịch sử khác từ thời kỳ Byzantine và Trung cổ cũng cho thấy rằng Khirbet Kana được coi là địa điểm thực sự của Cana Tân Ước từ một thời kỳ rất sớm. Một cuốn sách hướng dẫn được viết bởi một Theodosius cụ thể giữa 517-527 CE có tiêu đề The Layout of the Holy Land xác định Khirbet Kana, và chỉ ra rằng hai trong số các tàu vẫn còn ở vị trí. Một tài khoản hành hương được viết bởi Saewulf năm 1101-1103 CE cũng xác định địa điểm, cũng như Belard của Ascoli (năm 1155 CE) và thầy tu dòng Dominican Burchard của núi Sion (1283 CE) và một bản đồ của nhà vẽ bản đồ nổi tiếng Petrus Vesconte năm 1321 CE. Burchard của núi Sion cũng mô tả một khu hang động nằm ở đó đã được sử dụng như là một nơi tôn kính ‘nơi này được hiển thị vào ngày này, nơi có sáu chậu nước đứng, và phòng ăn nơi đặt bàn”[4].

Một Cana nữa chúng ta không thể không nhắc đến, Cana đó không xác định được vị trí địa lý nhưng nó nằm sâu thẳm trong tâm hồn con người. Nơi đó, chúng ta khao khát những cuộc gặp gỡ, những tương quan đa diện, với Thiên Chúa toàn năng và với con người. Đặc biệt, nơi Cana ấy, những gì bí ẩn trong tâm hồn được bộc lộ, những ước mong thiếu thốn trong thâm tâm chúng ta được chính Thiên Chúa làm cho thỏa lòng.

1.2. Văn hóa

Nhắc tới một vùng đất đặc biệt là vùng đất có tên trong Kinh thánh thì không thể không tìm hiểu đến văn hóa, phong tục, tập quán ở đó. Trong sự tìm hiểu đó, đặc biệt nên tìm hiểu văn hóa cưới hỏi vì nó liên quan đến đề tài Tiệc cưới Cana cùng với việc mở rộng ra, đi sâu vào nền văn hóa của đất nước Palestin.

Tại Palestin, đám cưới là cơ hội thực sự quan trọng. Với người trinh nữ đám cưới phải tổ chức vào ngày thứ tư. Tiệc cưới kéo dài hơn một ngày, nghi lễ chính thức cử hành vào buổi xế chiều sau khi dự tiệc. Sau buổi lễ, đôi vợ chồng mới được đưa về nhà mới, khi đó trời đã tối, họ được đưa đi qua các con đường làng, dưới ánh đuốc, có lạng che đầu. Họ được dẫn theo con đường càng dài càng tốt để có thể gặp được nhiều người và nhận được nhiều lời chúc mừng. Với văn hóa hiếu khách, vợ chồng mới cưới không đi hưởng tuần trăng mật, họ ở lại nhà, mở cửa suốt tuần để tiếp mọi người đến với họ và trong suốt thời gian đó họ đội vương miện và mặc y phục hôn lễ.

Đặc biệt trong tiệc cưới, rượu là một thứ không thể thiếu vì nó làm tăng thêm niềm vui của khách mời và việc thết đãi rượu thịnh soạn dồi dào là một vinh dự cho gia chủ. Các rabi vẫn nói: “không rượu thì không vui”. Không phải vì mọi người nghiện rượu, nhưng bên phương Đông món rượu thật sự quan trọng. Mặc dù với họ, say rượu là một điều xấu hổ, nên thường khi uống rượu pha hai phần rượu và ba phần nước lã. Hơn nữa, theo văn hóa phương Đông, tiếp khách là nhiệm vụ thiêng liêng vì thế thiếu thức ăn, nước uống trong bữa tiệc cưới là điều xấu hổ, nhục nhã cho cô dâu và chú rể[5]. Và mời khách là một việc không kém phần quan trọng của đám cưới, người Do Thái có câu tục ngữ: vì thế không mời người thân quen dự đám cưới là một sự xúc phạm lớn.

Có một tục lệ mang ý nghĩa buồn chẳng bao giờ được quên trong tiệc cưới của người Do Thái, đó là cái ly đựng rượu cho chú rể và cô dâu cùng uống bị quăng bể ra trên sàn nhà, điều này được làm để nhắc nhớ kỷ niệm về thành Giêrusalem và đền thờ bị tàn phá nhằm dạy rằng: người Do Thái dù ở đâu, bất kỳ lúc nào ngay cả trong niềm vui lớn nhất cuộc đời mình là cưới vợ cũng không được quên nỗi đau thương của dân tộc, tổ quốc Do Thái (Tv 137,6)[6].

  • Những dấu lạ thực hiện nơi Cana

Như đã nói trên Cana- miền đất dấu lạ. Nghe như thể, cứ tới Cana là Đức Giêsu làm phép lạ vậy.

Cana hai tiếng ngắn ngủi nhưng chất chứa bao kỷ niệm êm đềm. Cana nơi dấu lạ đầu tiên xảy ra, nơi đám cưới có đầy đủ các thành phần làm nên sắc màu của tiệc cưới. Và đâu nữa những dấu lạ xảy ra để rồi vùng đất ấy được lưu danh trong Tân ước. Nơi đây người cha nhận được dấu lạ chữa lành cho con nhờ lòng tin của mình và có một kết quả tốt đẹp là cả gia đình đã tin vào Đức Giêsu.

Có tiệc cưới tại Cana miền Galilê (Ga 2,1)… đó là dấu lạ đầu tiên tại Cana miền Galilê (Ga 2,11).

Chúa Giêsu trở lại Cana miền Galilê, là nơi Người đã làm cho nước hóa thành rượu (Ga 4,46)… đó là dấu lạ thứ hai Đức Giêsu làm (Ga 4,54).

1.3.1. Bản văn Ga 2,1-12: Tiệc cưới Cana

“Ngày thứ ba, có tiệc cưới tại Cana miền Galilê. Trong tiệc cưới có Thân Mẫu Chúa Giêsu. Đức Giêsu và các môn đệ cũng được mời tham dự. Khi thấy thiếu rượu, Thân Mẫu Đức Giêsu nói với Người: “Họ hết rượu rồi.” Đức Giêsu đáp: “Thưa Bà, chuyện đó can gì đến bà và tôi? Giờ của tôi chưa đến”. Thân Mẫu Người nói với gia nhân: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo”. Ở đó có đặt sáu chum nước theo thói tục người Do thái, mỗi chum chứa được khoảng tám mươi hoặc một trăm hai mươi lít nước. Đức Giêsu bảo họ: “Các anh đổ đầy nước vào chum đi!”. Và họ đổ đầy tới miệng. Rồi Người nói với họ: “Bây giờ các anh hãy múc và đem cho ông quản tiệc”. Họ liền đem cho ông. Khi người quản tiệc nếm thử nước đã hóa thành rượu (mà không biết rượu từ đâu ra. Còn gia nhân đã múc nước thì biết), ông mới gọi tân lang lại và nói: “Ai ai cũng thết rượu ngon trước, và khi khách đã ngà ngà mới đãi rượu xoàng hơn. Còn anh, anh lại giữ mãi rượu ngon cho đến bây giờ”. Đức Giêsu đã làm dấu lạ đầu tiên này tại Cana miền Galilê. Và bày tỏ vinh quang của Người. Các môn đệ đã tin vào Người. Sau đó, Người cùng Thân Mẫu, anh em và các môn đệ đi xuống Caphanaum và ở lại đó ít ngày”.

1.3.2. Bản văn Ga 4,46-54: Dấu lạ thứ hai ở Cana: Đức Giêsu chữa con một viên sỹ quan cận vệ của nhà vua

“Vậy Đức Giêsu trở lại Cana miền Galilê, là nơi Người đã làm cho nước hóa thành rượu. Bấy giờ có một viên sỹ quan cận vệ của nhà vua có đứa con trai đang bị bệnh tại Caphacnaum. Khi nghe tin Đức Giêsu từ Giuđê đến Galilê, ông tới gặp và xin Người xuống chữa cho con ông vì nó sắp chết. Đức Giêsu nói với ông: “Các ông mà không thấy dấu lạ điềm thiêng thì các ông sẽ chẳng tin đâu!” Viên sĩ quan nói: “Xin Ngài xuống cho, kẻo cháu nó chết mất!” Đức Giêsu bảo: “Ông cứ về đi, con ông sống”. Ông tin vào lời Đức Giêsu nói với mình, và ra về. Ông còn đang đi xuống, thì gia nhân đã đón gặp và nói là con ông sống rồi. Ông hỏi họ con ông đã bắt đầu khá hơn vào giờ nào. Họ đáp: “Hôm qua, vào lúc một giờ trưa thì cậu hết sốt”. Người cha nhận ra vào đúng giờ đó Đức Giêsu nói với mình: “con ông sống” nên ông và cả nhà tin. Đó là dấu lạ thứ hai Đức Giêsu đã làm, khi Người từ miền Giuđê đến miền Galilê”.

2. Dấu lạ hóa nước thành rượu

2.1. Nguyên nhân

Nguyên nhân đầu tiên là do lỗi thiếu rượu mà Thân Mẫu Đức Giêsu tinh tế nhận ra và nói với Đức Giêsu: “Họ hết rượu rồi” (Ga 2,3). Thứ đến là nhờ tinh thần lắng nghe lời Thân Mẫu Đức Giêsu và sự mau mắn thi hành lời của Đức Giêsu của các gia nhân nơi tiệc cưới mà dấu lạ xảy ra (Ga 2,7-8).

Nguyên nhân quan trọng mà tác giả nhắm tới không chỉ bề ngoài của dấu lạ nhưng là ý nghĩa thần học đã được nhắc đến: “Đức Giêsu đã làm dấu lạ đầu tiên này tại Cana miền Galilê và này tỏ vinh quang của Người. Các môn đệ đã tin vào Người” (Ga 2,11). Và đích đến cuối cùng của dấu lạ này được nói đến trong Ga 20,30-31: “Đức Giêsu đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để nhờ tin mà được sự sống nhờ danh Người”.

2.2. Cấu trúc dấu lạ đầu tiên

Bản văn Ga 2,1-12 diễn tiến với những tình tiết theo thể văn kể chuyện. Trình tự câu chuyện được diễn ra qua hoạt động của các nhân vật: Đức Giêsu, Mẹ Ngài, các môn đệ (các anh em của Ngài chỉ được thêm vào ở cuối x. c.12). Ở trung tâm câu chuyện có hai lời trao đổi ngắn:

Một, Mẹ Đức Giêsu mở đầu (x. c.3-5)

Và hai, Đức Giêsu truyền lệnh cho các gia nhân (x. c.7-8).

Cuộc gặp gỡ giữa Mẹ và Con đã dẫn đến việc nước trở thành rượu ngon và phản ứng của người quản tiệc (x. c.6-10). Sau cùng là lời giải thích của vị thánh sử về ý nghĩa của biến cố (x. c.11)

Nên bản văn được dùng phương pháp kể chuyện để nghiên cứu, với cấu trúc:

Câu 1-2: Phần mở: Giới thiệu khái quát: thời gian (ngày thứ ba), hoàn cảnh (tiệc cưới), không gian (Cana miền Galilê), nhân vật (Thân Mẫu Đức Giêsu, Đức Giêsu và các môn đệ).

Câu 3-4: Khó khăn: Khi thấy thiếu rượu, Mẹ Đức Giêsu nói cho Con biết rượu đã hết (c.3) nhưng Ngài đáp về “Giờ” của Ngài (c.4)

Câu 5-8: Yếu tố đảo lộn tình thế: Can thiệp của Thân Mẫu khi bảo người hầu (c.5); 6 chum đá (c.6); Đức Giêsu can thiệp qua hai lời truyền: các người hầu đổ đầy nước vào các chum rồi múc nước đem cho ông quản tiệc (x. c.7-8).

Câu 9-11: Tháo nút: quản tiệc nếm và ông khám phá ra rượu ngon. Sau cùng là kết thúc là lời ông quản tiệc trách khéo chàng rể.

Câu 12: Kết luận: những nhân vật chính (c. 1- 2) đã làm một cuộc hành trình để có mặt ở Cana nay di chuyển tới một nơi và tạm trú ngụ ở đó (Capharnaum).

2.3. Các biểu tượng trong dấu lạ đầu tiên

2.3.1. Ngày thứ ba

Về mốc thời gian, đa số các học giả đồng ý rằng đây là ngày thứ ba kể rừ ngày ông Nathanael đến gặp Đức Giêsu. Theo lược đồ liên quan đến thuyết bảy ngày mang tính nhân tạo[7] để nói về tuần lễ đầu tiên của Đức Giêsu, thì ông Nathanael đến gặp Đức Giêsu là ngày thứ năm. Vì thế, khi Đức Giêsu đến tiệc cưới Cana sẽ là ngày thứ bảy. Lược đồ này nhằm nối kết các hoạt động của Đức Giêsu trong bảy ngày với bảy ngày tạo dựng của Thiên Chúa[8].

Về ý nghĩa: “ngày thứ ba” là công thức quen thuộc đối với các cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi, qua đó nối kết lại dấu lạ Cana với biến cố trên núi Xinai (x. Xh 19,16). Đối chiếu hai câu văn: “ngày thứ ba, Giavê tỏ ra vinh quang của mình cho Môsê và dân chúng tin vào ông ta” (Xh 19,1.11) // “ngày thứ ba Chúa Giêsu tỏ vinh quang của mình và các môn đệ tin vào Người” (Ga 2,11). Dấu lạ tại Cana đánh dấu một giao ước mới, thay thế giao ước Xinai. Trên núi Xinai ông Môsê đứng ra làm trung gian giữa Giavê và dân Israel; tại Cana Đức Maria làm trung gian giữa Chúa Giêsu và các gia nhân. Trên núi Xinai, Thiên Chúa ban Lề Luật; tại Cana, tặng phẩm là rượu. Trên núi Xinai, dân chúng thưa: “những gì Chúa truyền, chúng tôi sẽ tuân theo” (Xh 19,8); tại Cana Đức Mẹ nói với gia nhân: “Người bảo gì, anh em hãy làm theo” (Ga 2,5)[9]. Từ nay, Luật mới là những giáo huấn của Đức Giêsu và toàn vẹn con người, cuộc đời của Ngài mà diễn từ Bánh Hằng Sống sẽ đề cập trong Ga 6.

Ngày thứ ba” lập tức gợi lên ngày thứ ba Phục Sinh. Vì vậy, khi đặt ngày thứ ba Cana trong tương quan với Phục Sinh, ta nhận ra quan điểm cánh chung của Gioan dội lại từ Thập giá đến toàn bộ cuộc đời và con người của Đức Giêsu. Dấu lạ Cana đi trước sự mặc khải tròn đầy của Đức Kitô ở giờ Thập giá cũng chính là giờ Phục Sinh[10].

2.3.2. Tiệc cưới

Khung cảnh tiệc cưới nối kết câu chuyện Cana với đề tài quen thuộc trong Cựu ước: đó là hôn lễ của Đấng Mêsia với Dân Người trong thời mà Đấng Mêsia đến (x. Hs 2,21-22; Gr 2,2; Dc 1,8) và sự viên mãn của thời này được đánh dấu bằng tiệc thịt béo, tiệc rượu ngon hảo hạng (x. Is 25,6-8). Trong các Tin mừng, Nước Trời được ví như một tiệc cưới (Mt 22,1-4; Lc 14,15-24; xem tiệc cưới Con Chiên: Kh 19,7-9) và Đức Giêsu là chàng rể như thánh Gioan Tẩy Giả sẽ giới thiệu (Ga 3,29). Các Tin mừng Nhất Lãm cũng mô tả Đức Giêsu là chàng rể của hôn lễ này (x. Mc 2,19; Mt 9,15; Lc 5,34)[11].

Tiệc cưới Cana đánh dấu sự chuyển tiếp từ đám cưới cũ sang đám cưới mới hình ảnh giao ước cũ sang giao ước mới. Vì thế then chốt của đám cưới này không phải là đôi tân hôn, nhưng là Chúa Giêsu: chính Người là hôn phu[12].

2.3.3. Rượu

Rượu trong Kinh thánh mang hai ý nghĩa chính:

* Thời đại của Đấng Mêsia, khi mà rượu trở nên dồi dào, hảo hạng. Đó là thời của giao ước tình yêu. Khi thiết lập bí tích Thánh Thể Chúa Giêsu đã tuyên bố rằng chén rượu thuộc về giao ước mới (Lc 22,20; 1Cr 11,25…).

* Lời Chúa: Luật Chúa là rượu của Khôn ngoan (Cn 9,2.5). Thời của Chúa Giêsu là thời của rượu mới bởi vì Ngài mang lại luật mới, do đó không nên đổ vào bình cũ (Mt 9,17; Mc 2,22)

Đồng thời có hai cách giải thích liên quan đến rượu:

Thứ nhất, nước biến thành rượu: nếu nước đựng trong sáu chum bằng đá tượng trưng cho các nghi lễ và đạo lý của người Do Thái trong thời Cựu ước, nước này tương ứng với tình trạng của giao ước cũ: một chế độ thanh tẩy bề ngoài, không có khả năng lập một giao ước nội tâm, bởi vì luật này được viết trên bia đá chứ không phải trong tâm hồn. Thứ nước này không thể làm cho tiệc cưới hoàn tất được, thì nay đã được Đức Giêsu biến đổi tận căn thành rượu là đạo lý của thời Tân ước.

Thứ hai, rượu xoàng và rượu ngon: Tin mừng Gioan cho biết “Thiên Chúa đã dùng Môsê mà ban bố Lề Luật, còn ân sủng và Chân Lý thì Người nhờ Đức Giêsu” (Ga 1,17). Tư tưởng đó cũng thấy trong thư Do Thái: Thuở xưa, Thiên Chúa mặc khải đạo lý cho loài người qua Môsê và các ngôn sứ trong thời Cựu ước nhưng ngày nay, Người mặc khải qua Đức Giêsu thời Tân ước (x. Hr 1,1-4). Nếu vậy, luật của ông Môsê và các giáo huấn của các ngôn sứ cũng có thể là rượu, nhưng Luật và giáo huấn mà Đức Giêsu đem đến là “rượu ngon” hơn. Chính điều này đã được Gioan đề cập trong Lời Tựa: “Từ nguồn sung mãn của Người, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến nơi khác” (Ga 1,16).

 Cho đến mãi bây giờ: Tin mừng Gioan dùng cụm từ này trong Ga 2,10; 5,17; 16,24 và một lần trong trong thư 1Ga 2,8-9. Qua đó, tác giả muốn ám chỉ tất cả các chặng đường chuẩn bị cho thời Đức Giêsu. Đây là thời của “rượu ngon/ ân sủng” tràn đầy và sung mãn do Đức Giêsu ban tặng[13].

Có thể thấy một yếu tố thần học của trình thuật dấu lạ Cana: đó là tính cách bí tích phép lạ. Clement Alexandria và Cyrilo Giêrusalem, cũng như Cyprinô đã đề nghị coi rượu của tiệc cưới Cana như hình bóng của rượu trong bí tích Thánh Thể.

Rượu của Đức Giêsu nơi Cana là ơn cứu độ như quà tặng của Đức Giêsu đem đến cho nhân loại[14]. Xét theo ngôn ngữ biểu tượng “rượu” còn diễn tả thiết tha mặn nồng giữa Thiên Chúa và con người. Rượu ở tiệc cưới Cana làm một dấu chỉ, dấu chỉ của một thực tại khác quan trọng hơn nhiều, rượu này đến chương 6 mới được bộc lộ đó là máu của Đức Giêsu (x. Ga 6,56). Đây là ân huệ bao la mà Đức Giêsu trao ban từ chính cuộc sống của Người để làm cho tiệc cưới có thể hoàn tất. Đây là giao ước hoàn hảo, giao ước được ký kết bằng chính máu người Con duy nhất. Và sau này trên đồi Calvê, rượu ngon sẽ trào ra từ cạnh sườn Chúa Giêsu, đó chính là lúc hoàn tất tiệc cưới (x. Ga 19,34).

2.3.4. Giờ

Giờ của con chưa đến“: “giờ/ ὥρα” là thuật ngữ đặc trưng mà Gioan thích dùng (26 lần) để nói đến giờ Khổ Nạn, Chết, Phục Sinh và Lên Trời của Đức Giêsu (x. Ga 7,30; 8,20; 13,1; 17,1).

Giờ” nơi Gioan luôn chỉ về những biến cố cuối cùng của Đức Giêsu (Bussche, x. P. Ch II: “Giờ”). Brown nói rõ hơn: đây là thuật ngữ nói về thời gian Thương khó, Chết, Sống lại và Thăng Thiên của Đức Giêsu. Theo tư tưởng của Gioan, “giờ” ấy không thuộc quyền ấn định của Đức Giêsu nhưng của Chúa Cha, Ngài luôn nói: “Lương thực của Thầy là làm theo ý Đấng đã sai Thầy và chu toàn lề luật của Người” (Ga 4,34)[15].

Trong Tin mừng Gioan, “giờ” của Đức Giêsu được mở ra một cách tiệm tiến và sẽ được khai triển trong phần hai của Tin Mừng, được gọi là “Sách về giờ của Đức Giêsu” (Ga 13-20). Giờ của Đức Giêsu không bị gói gọn vào thời điểm Người ở trên núi Calvê. Giờ ấy đã bắt đầu xuất hiện ở Cana, trải dài qua sứ vụ của Ngài vào bất cứ lúc nào Ngài thực hiện các dấu lạ để biểu lộ vinh quang và quyền uy của Ngài và giờ đó đạt tới thời khắc đỉnh điểm ở trên đỉnh Calvê là nơi vinh quang được của Người được trọn vẹn biểu lộ qua biến cố tử nạn và phục sinh. Nhiều chỗ khác trong Tin Mừng Gioan, khi người ta muốn Đức Giêsu tỏ mình ra, Người cũng khẳng định “giờ của Ta chưa đến” (Ga 7,6.8.30; 8,20). Chỉ khi bắt đầu bước vào cuộc Khổ nạn, Đức Giêsu cho biết: “Đã đến giờ Con Người được tôn vinh!” (Ga 12,23; xem thêm 12,27; 13,1; 16,23; 17,1)[16]. Ngoài ra, vài học giả muốn thu hẹp từ “giờ” theo một nghĩa riêng được nói về sau ở Ga 19,27 “từ giờ đó, môn đệ đón tiếp Đức Maria về nhà mình”, nghĩa là lúc Đức Mẹ được trao phó một sứ mệnh đặc biệt đối với người môn đệ của Chúa[17].

3. Ý nghĩa dấu lạ đầu tiên

“Dấu lạ đầu tiên này, Đức Giêsu đã làm tại Cana xứ Galilê và đã tỏ vinh quang của Ngài ra và môn đồ đã tin vào Ngài” (Ga 2,11)[18].

Như thế, dấu lạ hóa nước thành rượu không chỉ là “dấu lạ đầu tiên” mà còn là “điển hình”, “nguyên mẫu” của những dấu lạ tiếp sau nhằm “bày tỏ” vinh quang của Đức Giêsu và khơi nên niềm tin vào Người.

3.1. “Đây là khởi đầu của những dấu hiệu” (Ga 2,11a)

Tin mừng Gioan xác định đây là “dấu lạ đầu tiên” để phân biệt với dấu thứ hai (Ga 4,46 –54). Thuật ngữ “dấu hiệu” xuất hiện lần đầu tiên Tin mừng Ga 2,11. Tin mừng Gioan đã sắp xếp một cách biểu tượng bảy dấu lạ trong “sách các dấu lạ” từ chương 2-12.

Thuật ngữ “dấu hiệu” (σημείων/ sēmeiōn ) có một ý nghĩa đặc biệt như Tin mừng thứ tư gọi là dấu hiệu của sự kỳ diệu mà luôn đề cập tới thực tế khác, cũng có nghĩa là quyền năng lạ lùng của Đức Giêsu được biểu lộ qua các biến cố và đặc biệt, quyền năng này không chỉ dừng lại bề ngoài nhưng mời độc giả đi sâu hơn để khám phá căn tính dấu lạ của Tác giả.

Trong Tin mừng Gioan, từ “ἀρχὴν” không có nghĩa là khởi đầu sứ vụ công khai của Đức Giêsu nhưng từ ấy có nghĩa là khoảnh khắc chính xác mà Đức Giêsu bắt đầu tỏ mình ra cho các môn đệ (x. Ga 15,27; 16,4; 1Ga 1,1-3). Vậy việc mặc khải tiệm tiến của Đức Giêsu khởi sự tại Cana miền Galilê và được tiếp tục dọc theo sách Tin Mừng. Origiênê gọi dấu lạ Cana là một dấu chỉ “ưu việt”[19]. Đó là trong “ἀρχὴν” này mà Chúa Giêsu Logos hóa thành nhục thể, biểu lộ vinh quang của Người (Ga 1,14).

Đây là sự khởi đầu những dấu hiệu tại Cana đã có chứa yếu tố cấu trúc trong những dấu hiệu khác mà sẽ đến cách khác để biểu lộ vinh quang của Đức Giêsu. Do đó những dấu hiệu Gioan tạo thành một tổng thể, họ thắp sáng mỗi dấu hiệu họ thấy một khía cạnh tính của tính và sứ vụ của Chúa Giêsu[20].

3.2. “Chúa Giêsu biểu lộ vinh quang của Người” (Ga 2,11b)

Vinh quang của Chúa Giêsu tức là quyền năng của Thiên Chúa. Vinh quang ấy Chúa Giêsu vẫn có nơi Cha từ trước khi có đất trời (Ga 17,5) nay ẩn dấu trong thân phận con người, được Ngài tỏ lộ vinh quang qua dấu lạ nước hóa thành rượu. Nhờ đó các môn đệ tin vào Ngài.

Trong truyền thống Cựu ước, Đức Chúa mặc khải “vinh quang” của Người ra bằng những biểu lộ bên ngoài của chính bản thân Ngài, nghĩa là xuyên qua những “việc làm vĩ đại”, “những việc kỳ diệu” được thực hiện trong cuộc Tạo dựng và trong Lịch sử Dân Ngài (x. Tv 19,2; Ds 14,21.22; Xh 14,18; 16,7; 24,25; 29,43; 40,34; 1V 8,10…).

Tại Cana, Đức Giêsu làm dấu lạ đầu tiên như một biểu lộ đầu tiên về “vinh quang” của Người, một khởi đầu cho công cuộc mặc khải về mầu nhiệm bản thân Người[21].

Trong Tin Mừng Gioan, vinh quang của Đức Giêsu là không thể tách khỏi vinh quang của Cha Ngài. Chúa Giêsu nói với người Do Thái: “Nếu tôi tôn vinh bản thân mình, vinh quang của tôi là không có gì, nhưng là Cha tôi làm vinh hiển cho tôi” (Ga 8,54a). Ý muốn của Thiên Chúa được nhắc đến bởi Chúa Giêsu trong Ga 6,40: “Đây là ý muốn của Cha tôi là tất cả những ai thấy người Con và tin vào Con của Người thì có sự sống đời đời và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết”. Đề tài mặc khải “vinh quang” là chủ đề quan trọng trong suốt cả sách Tin Mừng thứ tư là để tin vào Chúa Giêsu cho sự sống đời đời (x. Ga 20,30-31)[22].

3.3. “Môn đệ của Người tin vào Người” (Ga 2,11c)

Ở chương trước, môn đệ dựa vào lời chứng của Gioan tẩy giả hoặc của bạn bè mà theo Chúa Giêsu. Đức Giêsu hứa sẽ cho họ thấy những việc trọng đại hơn (Ga 1,50). Bây giờ, họ đã thấy và tin thật Ngài là Con Thiên Chúa như họ đã từng tuyên xưng (Ga 1,41.49) thế là dấu lạ đầu tiên này đã hoàn tất việc Chúa Giêsu gọi các môn đệ đầu tiên.

Đây là lần đầu tiên trong Tin mừng Gioan rằng đức tin của nhóm các môn đệ được nhắc đến sau một dấu hiệu. Trong nhóm môn đồ đầu tiên của Đức Giêsu (Ga 1,35-51), chỉ có đức tin của Nathanaen được nhắc đến trong những lời của Đức Giêsu Ga 1,51: “Bởi vì tôi nói với anh rằng tôi thấy anh ở dưới cây vả nên anh tin”.

Đức tin của các môn đệ 2,11c là một mô hình mà người kể chuyện mang đến cho độc giả để họ có thể nắm bắt được các ý nghĩa thực sự trong những dấu hiệu và đến chỗ tin vào Đức Giêsu. “Tin vào Đức Giêsu” là những chủ đề chính Tin Mừng thứ tư. Tin là hoạt động diễn tả một sựu gắn bó, hoạt động bước theo và tín thác. Vì thế, Tin mừng thứ tư dùng động từ “tin/ ἐπίστευσαν ” với 98 lần[23].

Theo Tin mừng Gioan, tin ai cũng được diễn tả ra ba mức độ khác nhau:

* Tin “ai” là chấp nhận lời người ấy là thật (Ga 2,22; 4,21-50).

* Tin “vào ai” là gắn bó với người ấy (Ga 2,11; 3,16.18.36; 4,39).

* Tin “vào danh ai” là cách diễn đạt hoàn hảo nhất về đức tin. Đây là sự gắn bó với một người theo nội dung của tên người ấy. “Tin vào danh con Một Thiên Chúa” (Ga 3,18) có nghĩa là tin vào Đức Kitô trong tư cách là “Con Một Thiên Chúa”[24].

Hệ quả của “tin vào Đức Giêsu” là gì? Chúng ta sẽ được câu trả lời trong phần kết của Tin mừng Gioan: “Đức Giêsu đã làm nhiều phép lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người” (Ga 20,30-31)[25].

TIN: Đức Giêsu đã dùng các “dấu lạ” để khơi dậy đức tin nơi dân chúng (2,11.23; 4,45.53; 11,15.45.48). Lời rao giảng, giáo huấn của Chúa Giêsu cũng nhằm nảy sinh đức tin nơi thính giả (2,22; 4,41.50). Tin là đón tiếp Đức Giêsu (1,12; 5,43), là nhận biết Chúa Cha và Chúa Giêsu (3,20-21; 6,35.37.44.45; 14,6), nhận ra Ngài là Đấng Chúa Cha sai đến trần gian (5, 24.38; 17,8.21.23.25).

ĐƯỢC SỰ SỐNG: Vì tin nên tín hữu “có sự sống”, “sự sống đời đời” (Ga 3,15-16.36; 6,40.47.54.68; 17,2-3). Có sự sống đời đời là được hiệp thông với Thiên Chúa, là hiểu biết Chúa Cha cách trọn vẹn, yêu mến và gắn bó sâu xa với Ngài, và nhờ Chúa Giêsu ngay từ bây giờ, tín hữu đã lãnh nhận sự sống mới ấy rồi (Ga 3,36; 5,24; 6,40.48).

4. Giới thiệu Thân Mẫu Đức Giêsu

Như lẽ thường khi giới thiệu về một nhân vật nào đó, người ta sẽ giới thiệu về danh tánh và chức vụ đi kèm nhưng với tác giả Tin mừng thứ tư thì hoàn toàn khác, trong cả Tin mừng Gioan không gọi đích danh Đức Maria mà chỉ gọi là “Thân Mẫu Đức Giêsu” (Ga 2,1-3) hoặc “Thân Mẫu Người” (Ga 2,5.12) hay “Bà” – một người mẹ được sinh ra những người con trong đức tin, một đức tin hoàn toàn buộc mình thuận theo dự án của Thiên Chúa, tình yêu mãnh liệt biến đổi những nô lệ bất lực thành những người “anh em” (x. Ga 2,12) trong tình yêu Thiên Chúa. Như vậy, Đức Maria được giới thiệu với sự quy chiếu vào Chúa Giêsu. Danh tánh của Mẹ được ẩn đi, người ta không nhắc tới tên Mẹ một lần, tên của Mẹ cũng gắn với Con của Mẹ đồng thời cũng là Con Một Thiên Chúa là Đức Giêsu. Từ đó danh phận của Mẹ sẽ là luôn cùng sống và hiện diện trong từng biến cố quan trọng trong bước đường của người Con duy nhất.

Điều đó được thấy cách đặc biệt trong bản văn Ga 2,1-12, một biến cố đáng ghi nhận tuy bình thường nhưng lại rất thú vị mà chúng ta không thể bỏ qua, đầu tiên Gioan nêu lên chính là sự có mặt của mẹ Đức Giêsu tại tiệc cưới: “… có đám cưới tại Cana miền Galilê. Trong tiệc cưới có Thân Mẫu Đức Giêsu. Đức Giêsu và các môn đệ cũng được mời tham dự” (Ga 2,1-2). Sự hiện diện của Mẹ được đề cập trước mọi chuyện thậm chí trước cả sự hiện diện của Đức Giêsu và các môn đệ. Vì thế, người ta sẽ thấy vai trò quan trọng của mẹ Đức Giêsu trong tình huống này, đó là biểu lộ lòng tín thác và dạy người khác tín thác vào Đức Giêsu, và vai trò của Mẹ có ý nghĩa quyết định, tất cả diễn tiến câu chuyện sẽ không có gì xảy ra nếu không có sự hiện diện của Ngài. Đó cũng là lần đầu tiên Gioan nói về Ngài nhưng không cho chúng ta biết tên của Ngài. Và trong toàn bộ Tin mừng Gioan, chúng ta không tìm đâu được tên Maria tức là nếu chỉ có tin mừng Gioan thì chẳng ai biết tên Mẹ Maria. Từ đó cho chúng ta hay điều tác giả quan tâm không phải là Đức Maria miền Nazarét nhưng là “Thân Mẫu Đức Giêsu”, nơi người “đàn bà” Ngôi Lời vĩnh cửu của Chúa Cha mặc lấy xác phàm nhân loại, người phụ nữ trong đó Con Thiên Chúa bắt đầu cuộc sống làm người. Đó là người đàn bà được liên kết với phút khởi đầu trọng đại của sứ vụ Đức Giêsu. Qua đó, người đàn bà ấy chứng kiến sự khởi đầu mặc khải Mầu nhiệm cho thế gian[26].

CHƯƠNG II

SỰ HIỆN DIỆN CỦA THÂN MẪU ĐỨC GIÊSU NƠI TIỆC CƯỚI CANA

 

Có nhiều cách thế để hiện diện trong cuộc sống: hiện diện thể lý hay hiện diện tinh thần, hiện diện để có mặt hay hiện diện tràn đầy cả tinh thần lẫn thể xác. Vấn đề là hiện diện như thế nào mới là hiện diện thật và nó mang lại ý nghĩa gì cho chúng ta. Thật ra, có những lúc chúng ta “có mặt”, nhưng chưa chắc chúng ta đã “hiện diện”. Thế nên, để hiện diện thật sự, cần phải hiện diện với trọn vẹn hiện hữu của mình – cả tinh thần lẫn thể chất. Có nghĩa là ở đây, ngay lúc này, tôi đang hiện diện và ý thức một cách đầy đủ, đang sống thật những gì đang diễn ra trong cuộc đời của tôi. Có thể nói, nơi Cana, Thân Mẫu Đức Giêsu đã hiện diện hoàn toàn với hết con người mình: bằng tâm trí, lắng nghe, quan sát, thấu hiểu hoàn cảnh, Mẹ cũng hiện diện bằng lời nói, và bằng cả hành động. Sự hiện diện của Mẹ là chính con người Mẹ, một sự hiện diện mang đầy dấu ấn. Chính nhờ sự hiện diện đó, dấu lạ đầu đời của Con Thiên Chúa được biểu lộ, một dấu lạ mang đầy ý nghĩa. Mẹ hiện diện để nối kết yêu thương, nhờ đó mọi người lại gần nhau, cùng nhau thi hành thánh ý Thiên Chúa, ngõ hầu quyền năng Đấng Tối Cao tỏ lộ với mục đích tất cả cho danh Cha cả sáng và ý Cha được thể hiện.

1. Trong tiệc cưới có Thân Mẫu Đức Giêsu

1.1. Sự hiện diện của Mẹ mang sứ điệp yêu thương

Đức Maria, một nhân vật luôn khiêm tốn, xuất hiện ít nhưng luôn có mặt trong những thời điểm quan trọng đánh dấu chặng đường quan trọng của Con mình, vừa là mầu nhiệm vừa là dấu chỉ của Thiên Chúa, tự bản thân người đã là sứ điệp yêu thương Thiên Chúa muốn gửi đến cho nhân loại.

Mở đầu câu chuyện với lời giới thiệu:

“Και τη «‘ημερα τη τριτη» γαμοςεγενετο εν Κανα της Γαλιλαιας, και ην ‘η μητηρ του Ιησου εκει”.

Ngày thứ ba, có tiệc cưới tại Cana miền Galilê. Trong tiệc cưới có Thân Mẫu Đức Giêsu” (Ga 2,1-2). Trong Hy ngữ động từ “ην”chỉ một hành động mãi mãi vĩnh cửu, siêu thời gian, thường xuyên xảy ra trong quá khứ mà chưa xong. Ở đây chúng ta có thể hiểu Đức Maria thường xuyên đi đi lại lại ở Cana, Mẹ quen biết, Mẹ thấu hiểu và nhạy bén trước tình cảnh khó khăn của gia đình Cana. Và hoạt động đến Cana ấy vẫn còn diễn ra cho đến ngày hôm nay.

Trong trình thuật của Tin Mừng Ga 2,1-12, mọi người đến tham dự rất đông và mỗi người đều đang có các vị trí và công việc khác nhau, mỗi nhân vật đều chú tâm vào bổn phận. Nhưng chỉ mình Đức Maria có cái nhìn tổng thể, có thể thấy mọi sự trong một cái nhìn và thấy điều gì đang xảy ra và ở đâu có điều gì đang bị thiếu hụt. Mẹ chú ý mọi chi tiết, chiêm ngắm toàn thể và nắm bắt được tình hình[27]. Ngay cả sự có mặt của Mẹ cũng không bao giờ là đơn lẻ nhưng luôn mang tính toàn phần. Mẹ đã tạo lập được tương quan với mọi thành phần hiện diện nơi tiệc cưới. Với Đức Giêsu, Con của Mẹ, Mẹ đặt tin tưởng, phó thác tuyệt đối. Mẹ nói với Đức Giêsu về gia cảnh của gia đình Cana, vì Mẹ thấu hiểu và tin tưởng Đức Giêsu. Đối với gia chủ, Mẹ coi mình như người nhà, lo lắng tìm cách giải quyết cơn quẫn bách. Mẹ xây dựng tương quan với gia nhân; Mẹ đã nói và Mẹ khuyên họ thực thi điều Chúa dạy. Qua đó, Mẹ muốn trao lại cho họ chính điều mà cuộc đời Mẹ đã sống đã thực thi, đã yêu mến và khát khao đạt được (x. Ga 2,5). Mẹ lôi kéo những người trong nhà đám đi vào tương quan với Đức Giêsu. Dường như Mẹ không bỏ bất kỳ ai ra khỏi ánh mắt yêu thương của Mẹ. Nhờ Mẹ, mọi người cộng tác vào việc kiếm rượu cho đủ, ai cũng có chỗ đứng, không bị lạc lõng, không có cảm giác dư thừa, nhưng có vai trò cần thiết cho gia chủ[28]. Cách nào đó, nhờ Mẹ mà cả các tông đồ đã tin vào Đức Giêsu (x. Ga 2,11). Thế đó, một tương quan gắn bó, kết hợp, một tương quan đa chiều với Thiên Chúa, với tha nhân và làm cho ý Thiên Chúa được thể hiện. Nơi đây, Mẹ đã nói và đã làm để sự hiện diện của Mẹ mang đậm sứ điệp yêu thương.

Không chỉ có thế, sứ điệp yêu thương có thể thấy được qua sự hiện diện không tự mãn. Mẹ đồng hóa bản thân với hoàn cảnh khi “thấy thiếu rượu” (Ga 2,3a). “Thấy” ở đây là Mẹ không để mình đứng ngoài vấn đề nhưng Mẹ nhập cuộc đến nỗi như nhận một lời quở trách của Chúa Giêsu “chuyện đó can gì đến bà và tôi?” (Ga 2,4); “thấy” cũng là Mẹ đã nhận ra điều nguy hại đến tiệc cưới và Mẹ coi mình là người trong nhà, là người có trách nhiệm về những khó khăn ấy. Mẹ yêu thương nên Mẹ đã “thấy”, Mẹ chấp nhận và tìm cách nói với Đức Giêsu: “Họ hết rượu rồi!” (Ga 2,3). Vai trò của Đức Maria lúc này trở nên rất quan trọng: Mẹ can thiệp để làm cho tiệc cưới để thêm vui, để cho cô dâu và chú rể không bẽ mặt. Mẹ không nóng vội, không bị bối rối trước hoàn cảnh bất trắc này, trái lại nơi Mẹ toát lên thái độ âm thầm, điềm tĩnh. Đây không phải là sự hụt hẫng thụ động nhưng là một niềm tin đang thúc bách hành động (x. Ga 2,5). Với trái tim người mẹ, Đức Maria lưu tâm đến những nhu cầu của dân chúng và nói cho Chúa Giêsu biết, như một người mẹ nói với con của mình[29].

Hơn thế nữa, sự hiện diện của Mẹ trong tiệc cưới mang thông điệp yêu thương, lòng bác ái, vị tha của một Thiên Chúa xưng mình như là người mẹ: “Như người mẹ ấp ủ con thơ, Ta cũng ấp ủ các ngươi như vậy” (Is 66,13). Một Thiên Chúa với đặc tính “nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu lòng nhân nghĩa và thành tín” (Xh 34,6).

Như vậy, sự hiện diện của Mẹ tràn đầy yêu thương. Mẹ xây dựng các tương quan vững chắc thể hiện một người mẹ của Đức Giêsu, là một thành viên trong gia đình và qua đó bộc lộ nét ẩn giấu của Thiên Chúa yêu thương, đặc biệt rất dễ nhận ra trong những hoàn cảnh khó khăn hay những bế tắc của cuộc sống. Thế giới vẫn đang thiếu rượu và Mẹ Maria vẫn đang hiện diện để đồng hành với con cái mọi thời cũng như cầu thay nguyện giúp cho chúng ta.

1.2. Đức Maria, người tỳ nữ phục vụ

Ý định vĩnh cửu đã được mặc khải cho chúng ta là: cứu chuộc nhân loại qua người Con duy nhất là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Bên cạnh đó, Đức Maria được chọn là người để người Con duy nhất ấy được sinh ra, được làm người mang bản tính nhân loại. Nhờ đó, Mẹ Maria là người phục vụ mầu nhiệm cứu chuộc qua cung cách phục vụ Đức Kitô và phục vụ tha nhân.

Đức trinh nữ Maria là kho tàng ẩn giấu của Thiên Chúa. Quả thật, nói đến phục vụ người ta thường nghĩ đến kẻ thấp kém, nhưng đây lại là Mẹ Thiên Chúa. Và như thế, Mẹ thực hiện lời của Chúa Giêsu: “Con người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ” (Mc 10,45). Ở Cana, cách hiện diện của Mẹ luôn kín đáo và tế nhị, bởi lẽ Mẹ luôn nhường chỗ cho Đức Kitô, mọi việc Mẹ thực hiện trong Chúa Kitô và với Chúa Kitô và nhờ Chúa Kitô. Mẹ ở bên Đức Kitô như người nữ tỳ, một người phục vụ. Bởi đó, việc phục vụ của Mẹ trong thực tế là phục vụ Chúa Kitô. Là người phục vụ tốt lành, lý tưởng Mẹ chỉ xuất hiện khi cần thiết và rút lui cách nhẹ nhàng mà không gây chú ý, không gây xáo trộn, nhưng vẫn làm mọi việc với sự quảng đại tối đa[30]. Đức Maria hiện diện trong tiệc cưới Cana, Mẹ sát cánh bên Chúa Giêsu, Mẹ phục vụ ý định của Người. Hình ảnh của Đức Maria lúc này thật là tuyệt vời qua cách can thiệp thật nhẹ nhàng thể hiện sự tín thác vào quyền năng Thiên Chúa (x. Ga 2,3). Mẹ không ở vị thế của một người mẹ uy quyền và ra lệnh mà quyết định. Trái lại, sự lựa chọn của Mẹ là thay vì đi tìm rượu, mua rượu ở nơi khác, Mẹ chỉ gợi ý để Chúa hoàn toàn tự do định liệu, Mẹ không cung cấp trực tiếp khi người ta cần đến rượu nhưng đem nhu cầu này ra ánh sáng và phó thác cho Con của Mẹ: “Họ hết rượu rồi” (Ga 2,3)[31]. Ở trình thuật này, nếu lúc đầu là “thiếu” với “sáu chum đá của người Do Thái” trống vắng thì sau sự can thiệp của Mẹ, Đức Giêsu đã làm nước hóa thành rượu không chỉ là rượu mà còn là “rượu ngon”, “đầy tràn”. Như vậy, Mẹ phục vụ để vinh quang Thiên Chúa được biểu lộ trong khởi đầu sứ vụ công khai của Chúa Giêsu.

Mặc dù trong câu chuyện không trực tiếp nói đến sự phục vụ của Mẹ nhưng ta nhận ra điều đó qua việc Mẹ lưu tâm[32]. Đây là một việc quan trọng và cấp thiết, công việc của một ông quản tiệc. Mẹ thấy được sự nhốn nháo nơi những gia nhân, nên Mẹ phục vụ qua việc Mẹ ung dung quan sát những gì xảy ra và nắm bắt ý nghĩa khái quát của sự việc. Trong lúc này Đức Maria mang vai trò là quản tiệc phục vụ cho đám cưới, Mẹ kiểm soát được lỗi thiếu rượu do việc chuẩn bị của một quản tiệc khác và, Mẹ tìm cách để có được số rượu còn thiếu. Mẹ phục vụ quan tâm đến nhu cầu của người khác, Mẹ phục vụ để bữa tiệc được trọn vẹn niềm vui hơn. Mẹ chu toàn bổn phận ấy cách hoàn hảo qua việc mở lời với Đức Giêsu “Họ hết rượu rồi” (Ga 2,3) và với gia nhân “Người bảo gì, các anh cứ làm theo” (Ga 2,5). Nhờ sẵn sàng phục vụ nhưng ân cần, kín đáo, đôi mắt nhân từ của Mẹ thấy được những gì trước đó không ai thấy: Họ hết rượu rồi. Không chỉ có tại Cana, Mẹ vẫn nhạy bén với con người trên dương gian mọi thời, quan tâm đến những hoàn cảnh cụ thể, đến con người, đến sự vật. Đặc sủng của Đức Maria là một cái nhìn về toàn thể Giáo hội, đưa Mẹ chú ý đến những vết thương nhức nhối và nhanh chóng cho chúng diễn tả ra và trợ giúp chúng bằng việc khuyên người này điều gì cần phải làm và người khác các phương thế để hành động[33].

 Trong bước đường tận hiến, sự dâng hiến toàn thân cho Chúa sẽ đưa đến việc hiến thân phục vụ đồng loại. Chính vì Đức Mẹ chỉ sống cho mình Chúa nên ngài cũng sống cho nhân loại và để tâm đến nhân loại vì đó là đối tượng của tình yêu Thiên Chúa. Nơi Mẹ, sự hiến thân cho Thiên Chúa và sự phục vụ nhân loại là hai yếu tố luôn đi đôi, hòa hợp và không thể chia lìa.

1.3. Sự cộng tác của Mẹ trong chương trình cứu chuộc nơi tiệc cưới Cana

Đức Maria đã cộng tác vào những giờ phút quyết liệt của công trình cứu độ do Con mình thực hiện[34]. Trong câu chuyện tiệc cưới tại Cana, Mẹ đã từ bỏ ý riêng, những dự phóng riêng của bản thân để thực thi thánh ý Thiên Chúa để dấu lạ đầu tiên trong sứ vụ công khai được triển khai, nước lã biến thành rượu và quyền năng Thiên Chúa được tỏ lộ. Đó là sự hoàn hảo của tiệc cưới. Qua đó, ta thấy được sự kết hiệp cách mật thiết của Đức Maria với sứ mệnh công khai của Đức Giêsu trong chương trình cứu chuộc trần gian[35].

Nơi Cana, ta bắt gặp tràn ngập những biểu tượng của sự hợp tác của Mẹ vào chương trình của Thiên Chúa qua Con của Người là Đức Giêsu. Thật vậy, ngay từ đầu trình thuật, thánh sử đã ghi nhận rằng: “Trong tiệc cưới có Thân Mẫu Đức Giêsu” (Ga 2,1b) như muốn nói rằng sự hiện diện của Mẹ Maria đã là nguồn gốc của việc đôi tân hôn mời Đức Giêsu và các môn đệ. Xem ra, thánh Gioan muốn nói rằng, tại Cana, Đức Maria là người giới thiệu Đấng Cứu Thế[36]. Ở Cana ngày ấy, có một điều gì đó mang tính chất quyết định giữa Đức Giêsu và Mẹ của Ngài. Dù vẫn giữ khoảng cách trong tương quan với mẹ ruột, Đức Giêsu chưa bao giờ tỏ cho Mẹ về quyền năng thiên tính của mình. Nhưng giờ đây trong hoàn cảnh này, Đức Maria tự cảm nhận mình được liên kết vào công trình sự sống của Ngài, vào việc khai mở một thế giới mới khởi đầu cuộc sống nhân loại có người đàn bà và cũng có sự hiện diện của người đàn bà vào buổi đầu khi Thiên Chúa muốn ban sự sống của Người cho nhân loại qua người Con duy nhất[37].

Trong một thời khắc nào đó nơi Cana, đối với Đức Maria, cái có của Mẹ không phải là cái có của Con “Chuyện đó can gì đến bà và tôi? Giờ của con chưa đến?” (Ga 2,4). Lý do ở đây là Con của Mẹ nhắm tới một “giờ” khác và cho thấy dấu chỉ của “giờ” đó[38]. Học với Đức Giêsu, Mẹ hoàn toàn quy phục theo lời mời gọi Con của Mẹ, Mẹ không yêu cầu gì cả, Mẹ đón nhận thánh ý này trong sự thinh lặng và mời gọi những người xung quanh vâng theo Thiên Chúa: “Người bảo gì, các anh hãy làm theo” (Ga 2,5). Điều này chứng tỏ Đức Maria khẳng định rằng mình không có quyền gì trên Con, đồng thời lời của Mẹ không còn là một mệnh lệnh mà chỉ là cách diễn tả lòng đầy tin tưởng. Từ đó, ta càng thấy được sự cộng tác của Mẹ trong chương trình cứu độ, sự hợp tác này đòi hỏi phải vượt lên vai trò của người mẹ tự nhiên và bước sang lãnh vực của đức tin và hy vọng: ngay từ đầu Maria đã lập ra cho mình những dự phóng theo niềm tin Do Thái của Mẹ thì bây giờ Mẹ sống gắn bó với một dự phóng của một người khác, Mẹ cởi mở để chấp nhận kế hoạch của Thiên Chúa và tác giả dự phóng của Mẹ chính là Đức Giêsu Con của Mẹ[39]. Nhờ vâng phục mà một lần nữa Mẹ cho thấy mình là một nữ tỳ của Thiên Chúa thay vì một người mẹ như bao người mẹ khác, Mẹ đã trở thành mẹ của Đức Kitô theo cách thức mới như lời tuyên bố trong Tin mừng Nhất Lãm: “Phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi” (Mt 12,50). Đức Maria chấp nhận ý muốn của Thiên Chúa đồng thời thúc giục người khác mau mắn vâng phục[40]. Như vậy, Đức Maria trở nên hai lần làm mẹ Chúa Giêsu, mẹ của những ai thi hành những gì Chúa Giêsu phán bảo[41].

Dấu lạ hóa nước thành rượu, là dấu chứng không những lời cầu xin có hiệu lực mà còn mang ý định trổi vượt và mặc cho nó ý nghĩa mới: nỗi khát khao sự sống và niềm vui sống của con người được đảm bảo. Trong dấu chỉ Đức Giêsu chuẩn bị hoàn tất, niềm vui của con người vươn đến một niềm vui cao hơn, trọn vẹn hơn: từ nước lã nhạt nhẽo thành rượu ngon, niềm vui của sự sống thần linh được trọn vẹn không tính toán và mang theo nó sự hiệp thông giữa các hữu thể[42]. Hơn nữa, có một điều đáng lưu ý hơn là sau đó Gioan đã nhận xét thêm: “Chúa Giêsu đã làm dấu lạ đầu tiên này tại Cana…” (Ga 2,11). Như vậy, lời yêu cầu dấu lạ của Mẹ không nhằm nói lên nỗi niềm cảm thông thuần túy nhân linh như thể Mẹ xin Con Mẹ dùng quyền năng mà cứu vãn tình thế lúng túng của những người Mẹ gặp mà thôi nhưng đó còn là lời chuẩn bị, là nguồn gốc của dấu lạ đầu tiên Chúa Giêsu thực thi để khởi đầu sứ mệnh công khai của Ngài và làm cho lòng tin của các môn đệ thêm vững chắc. Đồng thời khi xin dấu lạ này Mẹ tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Đức Chúa Cha sai đến như Người đã hứa và như dân mong chờ[43].

Nơi Cana có sự liên kết giữa gia chủ và khách mời, điều này càng được nổi bật hơn khi có sự hiện diện của Đức Giêsu, Thân Mẫu Người và các môn đệ. Nhờ đó, chúng ta có thể nói: đó là mô hình của Giáo hội mà Chúa Giêsu thiết lập để đem ơn cứu độ đến cho nhân loại. Nhờ từ bỏ ý riêng và vâng phục đến tận cùng thánh ý Thiên Chúa Đức Maria trở thành mẹ Giáo hội trong nhiệm thể Chúa Kitô. Với tấm lòng người mẹ, Đức Maria luôn hiện diện cùng Giáo hội Chúa Kitô vai trò của mẹ càng được nổi bật hơn trong nhiệm cục cứu độ của Thiên Chúa khi Mẹ được đưa lên thiên đàng cả hồn lẫn xác.

2. Con đường Tin mừng của Đức Maria

Tin mừng là tin vui về Đức Giêsu Con Một Thiên Chúa với nhiều cách, nhiều lối, nhiều phương thế để đến với con người mọi nơi, mọi thời và mỗi người đều thủ đắc những đặc sủng riêng để theo cách của mình đem Chúa đến cho người khác. Với Đức Maria, con đường của Mẹ không nổi nang bằng phép lạ, bằng những bài giảng thuyết lừng danh thu hút nhiều người hay bằng những cách chữa lành cứu nhân độ thế. Mẹ có cách thế riêng, với tâm tư của một người nữ bén nhạy trước nhu cầu của mọi người xung quanh, với cách truyền đạt linh đạo sống của mình hay với con đường Mẹ đã đi để Mẹ dẫn con cái đến với Chúa. Lối dẫn đường này của Mẹ là con đường nước tuy từ từ, lặng lẽ, nhẹ nhàng nhưng sâu sắc. Đó cũng là Phúc Âm Maria là bài học tình yêu chuyển trao cho những người được tái sinh trong Đức Giêsu Kitô. Với Mẹ Maria, con người mở lối cho một nẻo đường đến với Đức Giêsu, một phong cách dấn thân và hy hiến cho Thiên Chúa.

2.1. Tâm tư người mẹ trong tiệc cưới

Người mẹ nào đồng hành cùng con mà không lo lắng, không hồi hộp trước những hành động, những lần thực hiện bước ngoặt quan trọng của con. Hơn một người mẹ như thế, Đức Maria cùng con sánh bước trong từng bước đường hoạt động sứ vụ mà Thiên Chúa trao cho Người. Mẹ mang nỗi lo của một người mẹ nhưng trong Mẹ không thiếu niềm tin tưởng, phó thác vào những gì Con mình hành động. Với Đức Maria người mẹ luôn đặt mình trong hoàn cảnh để hiểu, để yêu mến và phục vụ. Cũng vậy, nơi Cana năm xưa, Mẹ mang bao tâm tình, tâm tư của Mẹ không chỉ hướng về Người Con yêu nhưng Mẹ cũng chấp nhận hoàn cảnh, mặc lấy tâm tư của người mời tiệc như của chính Mẹ vậy.

Trước hết, Mẹ là người thứ nhất và có lẽ là duy nhất thấy được sự thiếu rượu của nhà đám. Như chốc lát hồi tưởng lại một thời buồn đã qua của dân Israel qua tiên tri Isaia: “rượu mới đượm màu tang, cây nho héo tàn. Chẳng còn ai vừa uống rượu vừa ca” (Is 4,7.9). Sẽ không còn tiệc cưới, không còn rượu nữa vì dân chúng vi phạm các điều luật, không tuân lệnh luật Chúa truyền và phá vỡ giao ước tình yêu (x. Is 24,5). Mẹ lo lắng. Không những thế, qua tình cảm của một phụ nữ, là bà nội trợ từng trải và tinh mắt, Mẹ đã không thể dửng dưng trước tình cảnh của đôi lứa đang bị đe dọa, hạnh phúc gia đình trước bờ thẳm tổn thương. Ở Nazaret thể nào thì tại Cana cũng thể ấy, bao giờ Mẹ cũng đóng đầy đủ và ý thức vai trò phụ nữ của Mẹ: cảm thông sâu sắc với những vướng mắc của những người gặp nghịch cảnh. Đi vào tâm tư của gia chủ, Mẹ sốt ruột, Mẹ biết gia chủ muốn tổ chức một đám cưới trọn vẹn, không để thực khách bị dở dang niềm vui, Mẹ ý thức văn hóa thời đó[44]. Như một người mẹ lo cho đám cưới của con mình, Mẹ muốn nó hoàn hảo. Sau những phút lặng lẽ quan sát, tâm tư của Mẹ có chút lo lắng trước sự thiếu thốn yếu tố quan trọng của bữa tiệc, tình yêu người mẹ thúc bách, Mẹ diễn tả tâm tư của mình, Mẹ đã tìm cách nói giúp họ một tiếng “Họ hết rượu rồi” (Ga 2,3). Mẹ bày tỏ ưu tư của mình trước một tình trạng, Mẹ hy vọng lời Mẹ xuất phát từ đáy lòng sẽ được thỏa mãn.

Thứ đến, qua tâm hồn của người mẹ, Mẹ hiểu thấu Con mình bằng tấm lòng của một người mẹ, Mẹ biết được Con mình làm gì bằng linh cảm của mẹ, Mẹ cũng biết Đức Giêsu có thể làm được điều Mẹ xin. Điều này được Mẹ Maria đã cảm nhận sâu sắc qua đời sống ẩn dật của Chúa Giêsu trong suốt 30 năm qua và bằng cả một giác quan thiêng liêng trong đức tin mà trong đó không thiếu sự tin cậy, phó thác. Từ tâm tư người mẹ, sự quan sát, thấu hiểu, Mẹ đã cất thành lời, thành cuộc đối thoại với Con của Mẹ, lời nói đó là sự gẫm suy sâu sắc, thấu cảm sâu xa và là lời nói có giá trị thốt ra từ tâm hồn, một ý nghĩa nội tâm được bộc lộ: “Họ hết rượu rồi” (Ga 2,3).

“Không những thế việc chiêm ngưỡng Chúa Kitô được tìm thấy nơi Đức Maria một mẫu gương vô song dung nhan người Con đặc biệt thuộc về Mẹ. Chính trong cung lòng Mẹ mà Chúa Giêsu được hình thành, Người đón nhận nơi Mẹ những nét giống nhau về phương diện nhân loại. Điều đó gợi lên sự gần gũi thân mật hơn về mặt thiêng liêng giữa Mẹ với Con… đôi mắt Mẹ luôn luôn là cái nhìn xuyên thấu, một cái nhìn có khả năng thấu hiểu tâm tư của Đức Giêsu đến nỗi Mẹ có thể thấu hiểu nỗi sâu kín của Người và biết trước những quyết định của Người nơi Cana (x. Ga 2,5)”[45].

Hơn nữa, nơi Cana Mẹ Maria không chỉ có nói, có đối thoại mà nơi Mẹ không thiếu đi những khoảnh khắc thinh lặng để lắng nghe, để hiểu và tìm thánh ý Thiên Chúa. Tâm tư của Mẹ lúc ấy được diễn tả cách sâu sắc hơn. Trước lời đáp có vẻ lạnh lùng của Đức Giêsu: “Chuyện đó can gì đến bà và tôi? Giờ của tôi chưa đến” (Ga 2,4), lời đáp của Mẹ với Đức Giêsu là sự thinh lặng, trong giây lát Mẹ khép mình lại. Bởi lẽ trong thinh lặng ấy Mẹ ẩn vào bên trong nơi chỉ có Thiên Chúa nghe thấy nỗi lòng Mẹ. Thay vì tỏ ra bị xúc phạm, Đức Maria hiểu và trong cái nhìn của Chúa Giêsu, Mẹ tin Con Mẹ làm được điều mà Mẹ đang khao khát. Phút thinh lặng cũng đồng nghĩa với việc Mẹ không hề chùn bước, Mẹ đang phải chiến đấu với những giằng co trong lòng, với cả bóng tối. Tuy Mẹ được miễn khỏi tội nguyên tổ nhưng không được miễn những chiến đấu của kiếp người và “những gian khổ của lòng tin”. Nếu Đức Giêsu phải chiến đấu đến toát mồ hôi máu để thi hành thánh ý Chúa Cha thế nào thì đây Mẹ cũng phải “hấp hối” để vâng theo Con Thiên Chúa như vậy[46].

2.2. Mẹ truyền thông sứ điệp của Con Thiên Chúa

Từ giây phút truyền tin, Đức Maria không còn thuộc về mình và không sống cho riêng mình nhưng tất cả Mẹ dâng hiến cho Chúa với con tim vẹn toàn không phân chia. Để rồi từ tâm tư của Mẹ với Con của mình, với nhân loại, Mẹ tiếp tục truyền thông sứ điệp của Con Thiên Chúa. Sứ điệp Maria- Cana là sứ điệp từ chính cuộc đời Mẹ gửi đến cho con người mọi thời “Người bảo gì, các anh hãy làm theo” (Ga 2,5).

Quả thật, Đức Maria là công trình tuyệt hảo nhất trong những thụ tạo mà Thiên Chúa đã dựng nên, cả con người Mẹ là một sứ điệp lớn mà Thiên Chúa đặt nơi trần gian và kêu gọi con người sống như Mẹ. Trong từng biến cố của Đức Giêsu, sự hiện diện của Mẹ đều để lại cho ta những sứ điệp sống động cụ thể. Sứ điệp của Mẹ không chỉ đơn giản là lời nhưng đồng thời cũng là sống, là cốt tủy chính cuộc đời của Mẹ. Đặc biệt, nơi Cana năm xưa, Mẹ đã để lại một câu nói lịch sử vang mãi trong lòng những người tin theo Chúa. Lời ấy của Mẹ là lời vang mãi đầy sự khuyến khích, mời gọi, lời đó đánh động đến tâm can của bao thế hệ loài người đặc biệt những người con yêu của Mẹ, lời đó có giá trị sâu sắc và trọng lượng bởi chính Mẹ đã sống lời đó. Đó là câu nói cuối cùng của Mẹ bởi từ đó Mẹ không nói lời nào nữa trong tin mừng Gioan và đã được A.Serra gọi là “di chúc thiêng liêng” của Đức Mẹ trối lại cho nhân loại. Một điều khác lạ, câu nói đó lại được nói với những người thấp kém nhất của xã hội thời bấy giờ, Thân Mẫu Người nói với gia nhân: “Người bảo gì, các anh cứ làm theo” (Ga 2,5).

Lời nói này nếu đặt trong khung cảnh tiệc cưới Cana chật hẹp, nó chỉ có nghĩa người muốn cứu vãn một tình thế bất trắc về mặt vật chất của bữa tiệc, nhưng trong quan điểm Tin mừng thứ tư, lời đó đúng hơn phải nhắc ta nhớ đến quá trình dài của lịch sử cứu độ trong Cựu ước: Lời Pharaô nói với dân Ai Cập trong nạn đói: “Hãy đến cùng Giuse và Người bảo gì các ngươi hãy làm theo” (St 41,55-56), lời công thức đã được dân Israel dùng để phê chuẩn giao ước Sinai (x. Xh 19,8; 24,3-7; Tl 5,27) hoặc để lập lại các điều đã cam kết (x. Gs 24,24; Er 10,12; Nê 5,12). Lời đó, hơn nữa, còn kỳ diệu phù hợp với lời Chúa Cha phán dạy trong biến cố Hiển Dung trên núi Tarbo: “Các ngươi hãy vâng nghe lời Người” (Mt 17,5)[47]. Đồng thời, đó cũng là mặc khải do Chúa Cha ban trực tiếp cho trong biến cố Chúa Giêsu chịu phép rửa tại sông Giođan và được Gioan làm vang vọng[48]. Và như thế, vấn đề “Người bảo gì, các anh cứ làm như vậy” là làm theo ý Người như chính Người đã thi hành thánh ý Chúa Cha: “xin đừng theo ý Con mà theo ý Cha” (Lc 22,42). Khi đi vào trong kế hoạch của Thiên Chúa, Đức Maria trở thành gương mẫu cho một Giáo hội biết tôn trọng kế hoạch của Thiên Chúa hơn là thỏa mãn các dự phóng, kế hoạch của riêng mình. Như vậy, Cana trở thành biểu tượng cho tinh thần khước từ vinh quang trần tục, để đạt tới vinh quang Chúa Cha[49].

Lời của Đức Maria là sứ điệp mà Thiên Chúa muốn gửi đến cho nhân loại. Đó là lời khuyên từ mẫu nhất mà Đức Maria gửi đến cho Giáo hội trong mọi thời đại. Lời khuyên này cũng là một lời giới thiệu về những lời và dấu chỉ trong sứ vụ công khai của Đức Giêsu. Sứ điệp ấy là lời căn cốt nhất và dạy chúng ta điều giá trị nhất. “Người bảo gì, các anh cứ làm theo” (Ga 2,5) cũng cho thấy Đức Maria hiểu rõ Con mình và kèm theo đó là thái độ tin tưởng vâng phục như người tôi tớ. Mẹ tin tưởng hoàn toàn ngay cả khi không hiểu, xem ra liều lĩnh nhưng thực sự cũng là một kinh nghiệm và hiểu biết chín chắn, Đức Maria biết Mẹ tin vào ai, Mẹ chờ đợi trong tin tưởng, nhờ thế dấu lạ đã xảy ra.

 Lời nhắn nhủ cuối cùng tuy thật ngắn gọn nhưng là kinh nghiệm dấn thân cả đời của Mẹ. Đức Maria đã không ngần ngại trao cho chúng ta bí quyết sống ấy: hãy vâng phục hoàn toàn ý muốn của Thiên Chúa. Sự vâng phục này luôn đòi hỏi niềm tin vững vàng và một tâm hồn nhạy bén để lắng nghe những biến cố trong đời và suy đi ngẫm lại trong lòng. Đức Maria đã trở thành người truyền thông sứ điệp Con Thiên Chúa: “Đức Maria đã lắng nghe và đón nhận sứ điệp của tất cả và trong lúc phục tùng, Đức Maria đã trở nên người tớ nữ của Thiên Chúa[50].

2.3. Qua Mẹ Maria đến cùng Đức Giêsu – Per Mariam ad Jesum

Chúa Kitô là Đấng Trung Gian và là Đấng Cứu Độ duy nhất của thế gian. Đó là lòng tin của mọi Kitô hữu qua mọi thế hệ. Bên cạnh đó, Hội thánh cũng gọi Đức trinh nữ Maria là “Đấng trung gian phổ cập” ở bên Đấng Trung Gian duy nhất. Hay nói cách khác Đức Mẹ là trung gian giữa Chúa Kitô và Hội thánh cùng với toàn thể nhân loại.

Công đồng Vaticanô II đã khẳng định:

“Vai trò làm Mẹ của Đức Maria đối với loài người không làm lu mờ hoặc giảm bớt vai trò trung gian của Chúa Kitô chút nào, trái lại còn làm sáng tỏ mãnh lực của sự trung gian ấy. Thật thế, mọi ảnh hưởng có sức cứu rỗi của Đức Trinh nữ Maria trên nhân loại không phát sinh từ một sự cần thiết khách thể nào nhưng tùy ý định nhân lành của Thiên Chúa và bắt nguồn từ công nghiệp dư tràn của Chúa Kitô”[51].

Với thiên chức làm Mẹ Đấng Cứu Thế, khi đón nhận sứ điệp truyền tin, Đức Maria đã quảng đại cộng tác vào công trình cứu độ của Thiên Chúa. Hơn nữa, suốt hành trình ấy, Đức Maria đã không ngừng hiện diện trong công trình cứu độ của Chúa Kitô và kết hiệp cách mật thiết với công trình và sứ vụ của Người: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa” (Lc 1,38). Lời nói của Đức Maria vừa đặt Mẹ vào tương quan lệ thuộc hoàn toàn vào Thiên Chúa mà còn là trung gian giữa Thiên Chúa và loài người. Từ đây, Đức Maria theo Con mình đến Chân Thập giá để tiếp tục đón nhận sứ vụ mới: “Đây là con Mẹ” (Ga 19,27). Đức Maria khởi sự là Mẹ của Hội thánh mới khai sinh và tiếp tục cho đến khi hoàn tất vĩnh viễn.

Vai trò này cũng được thánh GH Gioan Phaolô II khẳng định:

“Đức Kitô là vị Thầy tối cao, Đấng mặc khải và là Đấng được mặc khải. Đây không chỉ là vấn đề hiện tỏ điều Người đã dạy nhưng là học hỏi chính Người. Theo viễn tượng ấy, chúng ta có thể có vị thầy nào tốt hơn là Đức Maria không?… Nhưng trong số các tạo vật, không ai biết rõ Đức Kitô bằng Đức Maria, không ai có thể dẫn chúng ta đến sự hiểu biết sâu xa về mầu nhiệm của Người hơn là Mẹ của Người. Dấu lạ đầu tiên mà Đức Giêsu thực hiện biến nước thành rượu tại tiệc cưới Cana rõ ràng giới thiệu Đức Maria dưới dáng vẻ của một thầy dạy, khi ngài thúc giục các đầy tớ làm theo điều Đức Giêsu chỉ bảo (x. Ga 2,5)”[52].

Tại Cana, vai trò làm mẹ của Đức Maria được làm nổi bật lên bởi chiều kích mới mẻ làm mẹ tinh thần chứ không đơn thuần làm mẹ thể xác. Điều đó được thể hiện qua sự lo lắng “thiếu rượu” của loài người. Các nhu cầu của con người liên hệ đến chiều kích sứ mạng Thiên Sai của Đấng Cứu Thế. Giờ đây, Đức Maria ở giữa Thiên Chúa và loài người, Đức Maria hoạt động như một trung gian trong một hoàn cảnh thiếu thốn khổ đau của nhân loại. Nhờ lòng tin và lời cầu bầu của Mẹ dấu lạ đầu tiên của Đức Giêsu đã được thực hiện dù giờ của Ngài chưa đến.

“Ở Cana miền Galilê chỉ khía cạnh cụ thể trong sự nghèo túng của loài người được bày tỏ, xem ra nhỏ nhoi và ít sự lựa chọn (họ hết rượu rồi). Nhưng điều đó chỉ có giá trị tượng trưng đoán trước những nhu cầu con người có nghĩa là đồng thời đưa chúng vào ánh sáng của sứ mạng thiên sai và sức mạnh cứu độ nơi Đức Kitô. Vậy ở đó có một sự môi giới: Đức Maria đứng giữa Con mình và loài người trong cảnh sống đầy thiếu thốn, nghèo túng và đau khổ của họ. Bà ở giữa “tức là hoạt động như trung gian, không phải bên ngoài nhưng với tư cách là mẹ, bà ý thức mình có thể trình bày cho Con mình những nhu cầu của loài người hay đúng hơn, là có quyền làm điều đó. Vậy sự môi giới của bà mang sắc thái chuyển cầu: Đức Maria khẩn cầu cho loài người. Không những thế với tư cách là mẹ, và cũng muốn uy quyền thiên sai của Con mình được tỏ hiện rõ, tức là quyền năng cứu độ của Ngài nhằm cứu giúp loài người khốn cùng, nhằm giải thoát con người khỏi sự dữ đang đè nặng trên cuộc sống của họ dưới nhiều hình thức và nhiều mức độ khác nhau. Ngoài ra, khía cạnh khác trong vai trò làm mẹ của Đức Maria được tỏ hiện qua lời của Mẹ “Người bảo gì, các anh hãy làm theo” (Ga 2,5). Thân Mẫu Đức Giêsu xuất hiện trước loài người như là người phát ngôn ý muốn của Chúa Con, là đưa ra một số đòi hỏi cần được thỏa đáng để quyền năng cứu độ của Đấng Thiên Sai được thể hiện”[53].

 

Một cuộc đối thoại đa chiều với Đức Giêsu và với gia nhân, nếu Mẹ chỉ âm thầm nói với Đức Giêsu thì dấu lạ vẫn có thể xảy ra nhưng ở đây thì không, Mẹ còn nói với cả gia nhân, đại diện cho nhân loại. Như vây, Mẹ giới thiệu Đức Giêsu với gia nhân và ngược lại, Mẹ còn hướng dẫn gia nhân làm theo những gì Ngài truyền. Điều đó làm nổi bật vai trò làm trung gian của Mẹ nơi Cana trong tương quan với Đức Giêsu, Mẹ là ai với Chúa Giêsu thì Mẹ mới giới thiệu được người khác đến với Người như vậy. Vai trò trung gian của Đức Maria luôn bắt nguồn từ công nghiệp dư tràn của Chúa Kitô, mà biến cố Cana miền Galilê muốn trình bày cho ta như lời loan báo đầu tiên về sự trung gian của Đức Maria hoàn toàn quy hướng về Đức Kitô và hướng về mặc khải quyền năng cứu độ của Ngài[54].

Cũng với ý thức luôn quy hướng về Đức Kitô, trong hoàn cảnh này, Mẹ dạy người ta hướng về người Con: “Người bảo gì, các anh cứ làm theo” (Ga 2,5), Mẹ cho rằng Lời vĩnh cửu thốt ra là lời của tình huống và Lời đó làm muôn vật được tạo thành và mọi sự tồn tại (Cl 1,16-17). Đồng thời lời đó nâng cao phẩm giá của những người tôi tớ phục vụ tiệc cưới qua việc cho họ được hợp tác trong công trình cứu độ. Nơi đây, điều bé nhỏ kết hợp với điều vĩ đại… Với trung gian của người đàn bà và là người mẹ, Đức Maria làm cho việc đối thoại được có thể, việc đối thoại giữa vĩnh cửu và thời gian, để Thiên Chúa tiếp tục ghi dấu trong cách cư xử của chúng ta[55]. Hơn nữa, “Đức Maria đầy tin tưởng khi cầu nguyện và chuyển cầu cho những người khác: tại Cana, Thân Mẫu Đức Giêsu cầu Con mình lo đến nhu cầu của bữa tiệc cưới. Bữa tiệc này là dấu chỉ của một Bữa tiệc khác, là bữa tiệc của Chiên Con, Đấng ban tặng Mình Máu Người theo lời xin của Hội Thánh, Hiền Thê của Người[56].

3. Biểu tượng Thân Mẫu Đức Giêsu từ tiệc cưới Cana đến Chân Thập Giá

 Theo tin mừng thứ tư, Thân Mẫu Đức Giêsu đã hiện diện nơi hai biến cố trong sứ vụ trần gian của cuộc đời Chúa Giêsu:

  • Trong giai đoạn bắt đầu sứ vụ công khi Đức Giêsu làm dấu lạ đầu tiên tại Cana (Ga 2,1-12);
  • Trong giai đoạn kết thúc cuộc đời trần thế khi Đức Giêsu bị treo trên Thập Giá (Ga 19,25-27).

Từ đó cũng thấy được Đức Maria là sợi chỉ mảnh xuyên suốt và quan trọng. Hiện diện trong cả cuộc đời Con mình, cùng đồng hành cùng dấn bước để thi hành thánh ý Thiên Chúa. Hai biến cố ấy liên hệ chặt chẽ với nhau: Biến cố Cana tiên báo điều sẽ được hoàn tất nơi biến cố Calvê. Giờ khắc mà Đức Giêsu nhắc Thân Mẫu Người trong tiệc cưới Cana chính là “giờ” được hoàn tất nơi đỉnh cao Thập giá. “Giờ” là thời điểm mà Chúa Giêsu thiết lập giao ước mới vĩnh cửu với nhân loại trên Thập giá. Chính nơi đây, “giờ” của Đức Maria và “giờ” của Chúa Giêsu gặp nhau và chính nơi đó Đức Maria vừa hoàn tất sứ mạng từ Chúa Cha, Evà mới và đón nhận sứ vụ mới từ Đấng Cứu Thế, Mẹ Hội Thánh. Hai sứ mạng giao thoa để thấy được biểu tượng Thân Mẫu Đức Giêsu là Evà mới và là người môn đệ trung thành.

 3.1. Đức Maria là Evà mới bên cạnh Chúa Giêsu là Ađam mới

Với một danh xưng duy nhất, nơi tiệc cưới Cana và dưới chân Thập Giá, Chúa Giêsu gọi mẹ mình là ““.

Trước hết, đây không phải là cách xưng hô cứng cỏi, bất lịch sự hay biểu lộ thiếu thân thương nhưng trái lại đây là cách xưng hô lịch sự bình thường đối với phụ nữ trong Kinh thánh (x. Mt 15,28; Lc 13,12; Ga 4,21; 8,10; 20,13) và xưng hô như thế cũng không khước từ giá trị liên hệ mẹ – con.

Thứ đến, Đức Giêsu nói: “Thưa bà” (Ga 2,4; 19,26) trong thời điểm này, Đức Giêsu cư xử theo tư cách là Đấng Thiên Sai chứ không theo tư cách là con. Ở đây, Đức Giêsu muốn nhắc đến thời Ngài thi hành sứ vụ vĩ đại của Thiên Chúa cứu nhân loại, và Đức Maria phải đặt tương quan mẹ con phần xác ra bên ngoài. Đồng thời, Đức Maria phải giữ vị thế của mình là một người đàn bà, một người đàn bà bình thường, vô danh nhưng được Thiên Chúa ghé mắt nhìn thương mời gọi đóng góp vào công trình cứu độ:

Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn đến

Từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc” (Lc 1,48).

Lật lại từ những trang đầu của Kinh thánh, từ “” đã xuất hiện trong St 2,23: “Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi! Nàng sẽ được gọi là đàn bà, con người đặt tên cho vợ mình là Evà vì bà là mẹ của chúng sinh”. Và nơi “tiền Tin Mừng”: “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy” (St 3,15). Như thế, Phúc âm Gioan đã suy nghĩ về Đức Maria: Người là Đức Maria của Đấng Mêssia. Vai trò của Đức Maria là cuộc chiến đấu chống lại satan, con rắn. Và cuộc chiến đó lên đến tột đỉnh vào giờ của Chúa Giêsu, nên Mẹ xuất hiện dưới chân thập giá để được trao phó “dòng dõi” bảo trợ còn tiếp diễn giữa satan và các tín hữu. Như thế Đức Maria là Evà mới, hình ảnh của Giáo hội[57].

 Tại Cana và dưới chân Thập giá, Đức Giêsu cũng gọi Mẹ mình cùng với một danh xưng ấy như để kêu gọi Đức Maria hãy đóng vai trò làm mẹ trong chương trình cứu độ, mẹ của những người được tái sinh nhờ Thập giá, và Chúa Giêsu muốn mẹ của mình cộng tác trực tiếp vào chương trình cứu độ ấy của Ngài.

Một chi tiết đáng lưu ý nữa, tại tiệc cưới Cana, khi thấy thiếu rượu, Đức Maria nói với Đức Giêsu: “Họ hết rượu rồi” (Ga 2,3). Đức Giêsu đáp: “Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và tôi? Giờ của tôi chưa đến?” (Ga 2,4-5). Dưới chân Thập giá, cuộc đối thoại giữa Đức Giêsu và mẹ người được diễn ra theo chiều hướng ngược lại. Nơi Cana, Mẹ nói còn khi đứng dưới chân Thập giá Mẹ lặng im, Đức Giêsu nói. Chúa Giêsu nói “Giờ của tôi chưa đến”, Người hướng đến giờ Thương Khó và Phục Sinh của Ngài. Chính trong Tin mừng Gioan đã nối kết giờ của Cana với giờ bắt đầu cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh, Gioan ngầm ám chỉ “giờ” mà Đức Maria đứng dưới chân Thập Giá. Trên Thập giá có Chúa Giêsu là Ađam mới còn dưới chân Thập giá có người môn đệ Chúa yêu và Đức Maria là Evà mới. Dưới chân Thập giá, vai trò làm mẹ trong bình diện cứu độ của ân sủng đạt đến đỉnh cao khi mầu nhiệm vượt qua của Đức Kitô được hoàn tất. Đức Maria chia sẻ tình yêu cứu độ với Con mình đồng thời hoàn tất sứ mạng “đầy ân sủng” của người nữ tỳ trong niềm tin.

Như vậy, Evà mới hiện diện nơi Cana và dưới chân Thập giá bên cạnh Ađam mới là Đức Giêsu để giao ước tiên báo trong tiệc cưới Cana được hoàn tất trên Thập giá, giao ước được ký kết bằng bửu huyết Con Một Thiên Chúa.

3.2. Đức Maria, người môn đệ trung thành

Người mẹ của Đức Giêsu không chỉ dừng lại nơi tiệc cưới, biểu tượng của hạnh phúc, nhưng Mẹ còn bước đến đồi Calvê nơi có đau khổ, chết chóc, cái chết tủi nhục đau đớn tột cùng, kinh nghiệm của sự bỏ rơi, cô đơn. Vì thế, Mẹ là người môn đệ trung thành trong lúc hạnh phúc cũng như lúc đau khổ của Con mình.

 Thứ nhất, Mẹ là môn đệ Đức Giêsu. Mặc dù trong bốn sách Tin mừng không chỗ nào mặc nhiên cho thấy Đức Giêsu tuyển chọn Đức Maria là môn đệ và Mẹ cũng không làm môn đệ của Ngài theo nghĩa: mẹ là một thành viên trong nhóm các môn đệ đã được tuyển chọn để đồng hành với Đức Giêsu trong sứ vụ rao giảng công khai của Người trong đất nước Palestin thời bấy giờ. Nhưng Mẹ luôn là môn đệ Chúa Giêsu qua thái độ đón nhận lời Thiên Chúa tức là hành vi đức tin hay lòng tin là điều kiện thiết yếu đối với những ai muốn trở thành môn đệ, như thánh Gioan khẳng định: “Nếu các ông ở lại trong lời tôi, thì các ông thật là môn đệ tôi” (Ga 8,31). Bởi đó, lòng tin của Đức Maria trong tư cách là một môn đệ “lắng nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành” chính là nguyên nhân giải thích tư cách làm môn đệ của Đức Maria.

Tiếp đó, Mẹ là người môn đệ hoàn hảo. Trong trình thuật Ga 2,1-12, thánh Gioan đã liên kết Đức Maria với các môn đệ đầu tiên của Đức Giêsu trong câu mở đầu đoạn trình thuật về tiệc cưới Cana (x. Ga 2,1-2). Và ở đoạn kết, Gioan chỉ nêu lên sự việc “các môn đệ đã tin vào Người” (Ga 2,11), nếu niềm tin của các môn đệ có được sau khi dấu lạ xảy ra tại Cana, thì niềm tin của Mẹ đến trước đó, tức là ngay sau khi Mẹ can thiệp với Con mình. Như vậy, nhờ đức tin của Mẹ mà các môn đệ đã tin vào Chúa Giêsu và chúng ta có thể gọi Đức Maria là môn đệ hoàn hảo của Chúa Giêsu. Nói cách khác, trong tiệc cưới Cana, Đức Maria đã thể hiện tư cách mẫu mực của người môn đệ.

Và Mẹ là người môn đệ trung thành. Từ Cana, Mẹ bắt đầu theo Chúa Giêsu trong hành trình rao giảng của Người. Tuy nhiên, Đức Maria hiện diện bên Chúa cách âm thầm và gắn bó. Thực ra, không ai có thể chối bỏ mối tương quan khăng khít giữa Chúa Giêsu và Mẹ Ngài, Chúa Giêsu và Đức Maria sát cánh như hình với bóng và điều đó nâng đỡ hành trình rao giảng của Chúa Giêsu và hoàn tất sứ mạng Từ Mẫu Con Thiên Chúa của Mẹ. Thánh Phaolô nói: “Hãy mặc lấy Chúa Kitô” (Rm 13,14). Đức Maria đã mặc lấy Chúa Kitô ngay từ giây phút Mẹ thưa tiếng “xin vâng” (x. Lc 1,38), và Đức Maria vẫn còn mặc lấy Chúa trong suốt quãng đường còn lại của đời Mẹ.

Không chỉ dừng lại nơi Cana với vinh quang được tỏ hiện, Đức Maria còn theo Con mình tới chân đồi Calvê. Thánh Gioan thuật lại:

 “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có Thân Mẫu Người, chị của Thân Mẫu, bà Maria vợ ông Cơlôpát, cùng với bà Maria Mácđala. Khi thấy Thân Mẫu và người môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giêsu nói với Thân Mẫu rằng: ‘Thưa Bà, đây là con của Bà’. Rồi Người nói với môn đệ: ‘Đây là mẹ của anh’. Kể từ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình”[58].

Cùng người môn đệ, Đức Maria ở dưới chân thập giá trong những giờ khắc cuối cùng Người ở trần gian, nơi đây, Mẹ được Chúa Giêsu trao một chức vụ mới là mẹ của người môn đệ. Ở Cana vai trò này mới chỉ thoáng lộ diện và chỉ đến lúc này, thời khắc đỉnh điểm trong sứ vụ của Chúa Giêsu thì vai trò ấy mới được chính thức chuẩn nhận. Với tư cách là mẹ của người môn đệ Chúa mến, mà người môn đệ Chúa yêu biểu tượng cho người môn đệ Chúa Kitô, luôn hiện diện trong tư cách người môn đệ lý tưởng, nên Đức Maria tất phải trở nên giống người môn đệ ấy về “bản chất” thiêng liêng và như thế Đức Maria cũng phải là người môn đệ lý tưởng. Đức Maria và người môn đệ Chúa yêu ở đây trung thành dưới chân Chúa cho đến khi Đức Giêsu nói: “Thế là đã hoàn tất. Rồi Người gục xuống trao thần khí” (Ga 19,30), hai nhân vật chứng kiến việc thổi ban thần khí và việc dòng nước hằng sống tuôn trào. Thế đó, Đức Maria và người môn đệ Đức Giêsu thương mến là những người đầu tiên lãnh nhận Thần Khí ban xuống trên Giáo hội vừa được thiết lập[59]. Như thế, Đức Trinh Nữ đã tiến bước trong cuộc lữ hành đức tin, trung thành hiệp nhất với Con cho đến tận bên chân Thập giá, Mẹ đã đứng đó theo ý định của Thiên Chúa (x. Ga 19,25)[60] và từ đây Mẹ nhận được thêm vai trò là mẹ các tín hữu, những người con “thiêng liêng” trong đức tin vào Con Thiên Chúa.

Mẹ không chỉ trung thành trong suốt chặng đường dương thế của Con Mẹ, Mẹ đồng hành với Giáo hội tiên khởi (x. Cv 1,12-14). Hơn nữa, Đức Maria vẫn luôn đồng hành với con cái Giáo hội mọi thời qua các cuộc hiện ra, qua sự chuyển cầu của Mẹ trên thiên quốc[61]. Đặc biệt, Đức Nữ Trinh luôn sát cánh bên những người môn đệ như các giáo sĩ, tu sĩ, những người thánh hiến mọi thời là những cánh tay nối dài của Chúa Giêsu để tiếp tục thực hiện thánh ý Thiên Chúa và để cho nước Chúa được hiển trị.

Tóm lại, với tư cách của người môn đệ theo sát chân Chúa Giêsu, Đức Maria đã sống một cuộc đời của người nữ tỳ trung tín luôn lắng nghe và thực thi ý Chúa để có lần Đức Maria được chính Đức Giêsu đề cao: “Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa, người ấy là anh em chị em tôi, là Mẹ tôi” (Mc 3,35). Sứ điệp về nước Thiên Chúa là sứ điệp của sự hiệp nhất, yêu thương và phục vụ lẫn nhau. Việc làm cho “ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời” (Mt 6,10) là kim chỉ nam hướng dẫn mọi suy nghĩ và hành động của Mẹ.

Đức cố Giáo hoàng Phaolô VI đã tuyên bố trong diễn văn kết thúc khóa III của Công đồng Vaticanô II như sau: “Trong cuộc sống dương thế, Đức Maria đã trở nên môn đệ hoàn hảo của Chúa Giêsu, đã đồng hóa mình với lời chúc phúc của Chúa Giêsu. Vì thế, trong Đức Maria, Hội thánh có được một mẫu gương hoàn hảo nhất trong công việc noi gương Chúa Giêsu”.

CHƯƠNG III

ĐỨC MARIA NÊU GƯƠNG VỀ CÁCH THẾ HIỆN DIỆN

CHO NGƯỜI NỮ TU HÔM NAY

 

Sự hiện diện cũng là cách thế đối diện trực tiếp với những gì sắp xảy ra, có khi là niềm vui nhưng cũng có thể là sự tủi nhục. Trong thực tế, hiện diện là dành thời gian cho ai đó hay nói cách khác là mất thời gian, nhưng ngược lại với sự mất mát đó, chúng ta nhận được một trao đổi thật sự của đối phương, những nụ cười, ánh mắt biểu lộ tâm hồn, cử chỉ cảm thông, sự ấm áp của con người trao tặng cho nhau. Điều đó, được thể hiện không chỉ qua lời nói tác động đến tinh thần nhưng còn là sự gần gũi, ấm áp của con người trao cho nhau chứ không chỉ đơn giản là những hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng. Đặc biệt, trong chương trước khi tìm hiểu đến sự hiện diện của Thân Mẫu Đức Giêsu nơi làng Cana năm xưa, một mô mẫu điển hình cho mọi sự hiện diện: Mẹ tác động đến Thiên Chúa, đến mọi nhân vật có mặt. Đó luôn là bài học về cách thế hiện diện cho con cái của Mẹ đặc biệt cho người nữ tu hôm nay.

1. Bài học về cách thế hiện diện

1.1. Người thánh hiến mang phong cách Đức Maria

Thánh Phanxicô Salêsiô đã nhìn nhận Mẹ “là nữ tu rất hoàn hảo“, là lý tưởng của các linh hồn hiến thân phụng sự Đấng Tối Cao nhờ ba lời khấn dòng. Vì thế, là người phụ nữ và nhất là người nữ tu, chúng ta luôn tự hào về Đức Maria, một người nữ hoàn hảo, người nữ vô song, đẹp hơn muôn ngàn phụ nữ, là người nữ khiêm nhường nhất, thánh thiện nhất, tinh tuyền nhất. Vậy, không ngại gì, người thánh hiến hãy bắt chước các nhân đức của Mẹ, đi theo con đường Mẹ đã đi để được đến nơi Mẹ đã đến. Và hy vọng khuôn mặt của Thân Mẫu Đức Giêsu sẽ được phản chiếu qua những người sống đời thánh hiến và sẽ trở thành dấu hiệu của lòng lân ái của Thiên Chúa trước mặt nhân loại, qua tâm hồn, lối sống và cách thức hành động của họ. Hy vọng sự hiện diện đó sẽ là điều thế giới chờ đợi và sự có mặt của người theo Chúa mang ý nghĩa của thiện cảm, chia sẻ và bênh đỡ.

Hãy để cho Đức Trinh Nữ Maria trở thành động lực thúc đẩy niềm vui trong cuộc đời chúng ta. Người tu sĩ hãy trở thành một Giêsu bé nhỏ bên cạnh Mẹ Maria[62]. Niềm vui chính là sức mạnh của Mẹ. Vì thế, mang phong cách của Mẹ là ngưỡi nữ tu luôn có một tâm hồn tràn ngập niềm vui, tình yêu thương. Người tu sĩ khởi đầu đời tu của mình bằng niềm vui vì được Chúa yêu thương mời gọi, niềm vui ấy thắm đượm chan hòa trong con tim. Niềm vui của đời tu được kín múc từ những giây phút đắm chìm bên Chúa, có khi chỉ cần hiện diện ở đó không nói gì, nhưng đó lại là nghị lực kín múc nơi Đấng là tác giả ơn gọi người thánh hiến. Thiết nghĩ, nếu không được khởi đi từ niềm vui, từ sự thúc bách bởi tình yêu Chúa, có lẽ người ta chẳng có động lực nào đi tu. Không bình an thì bước đi cũng chênh vênh và đôi khi lại là cả một sự lạc hướng. Hành trình đời tu là làm lan tỏa niềm vui ấy đến cho mọi người họ gặp gỡ.

Người tu sĩ vui để đem niềm vui đến cho người khác, nhưng cũng nhạy cảm tinh tế trước nỗi lo của người khác. Để làm được điều này, tu sĩ cần có một sự quan sát và bén nhậy. Mang trong mình sự lạc quan và thanh thoát để thổi vào dòng đời niềm tin, niềm hy vọng cho những người họ gặp gỡ. Với tâm hồn người theo Chúa, gặp được Chúa, họ đến với mọi người bằng sự tinh tế, nhạy cảm; bằng sự thấu hiểu nỗi lòng tha nhân kèm theo một sự quan tâm nhẹ nhàng. Họ biết người bên cạnh đang cần gì, tiếp cận người khác bằng tình yêu thương, thông cảm, chia sẻ, như Mẹ Maria đã cảm thông với đôi tân hôn nơi Cana, khi Mẹ nói với Đức Giêsu: “Họ hết rượu rồi” (Ga 2,3). Đây là một sự tế nhị, đầy yêu thương trìu mến xuất phát từ trái tim người nữ: biết quan tâm đến nỗi thống khổ của người khác và làm bớt đi nỗi thống khổ đó. Chính Mẹ Maria, một người nữ trong chúng ta đã làm như thế[63]. Các nữ tu không bàng quan thờ ơ trước những nỗi lòng của người khác. Họ nhạy cảm nhận ra sự thiếu thốn và cần thiết của người khác trước cả khi người ta tin tưởng và thổ lộ với họ. Khi nhận ra rồi, không dựa vào sức riêng của mình, nhưng tìm đến Chúa xin Chúa giúp, để trao họ vào bàn tay của Chúa Giêsu. Giống như Đức Nữ Trinh đã làm điểm tựa đức tin cho đôi tân hôn Cana, Mẹ dẫn người ta đến với Chúa để người ta có một đức tin vững chắc vào Thiên Chúa. Các nữ tu giúp mọi người nhận ra tình yêu của Thiên Chúa trong cuộc đời họ từ những điều bình thường nhất trong cuộc sống. Và như Mẹ, người tu sĩ cầu nguyện cho người khác vì tình thương, vì thổn thức trước nỗi khổ đau của người khác. Người nữ tu làm điều đó như một bổn phận của mình, hòa theo sự thúc đẩy của con tim chứ không phải vì danh, lợi cho bản thân.

Hơn nữa, người theo Chúa không thể thiếu sự nhạy bén, quan sát thời đại. Người thánh hiến nhận ra cơn khát của Chúa Giêsu, những hời hợt bên ngoài, sự tản mác, ôm đồm nhiều thứ, sự chạy trốn thực tại những khát khao trong lòng của con người ngày hôm nay, điểm yếu cần khắc phục nơi cộng đoàn, sự thúc đẩy của bản thân, sự thiếu rượu nơi bản thân. Họ trở nên những người môn đệ của Chúa sống trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian, con người của Thiên Chúa đọc dấu chỉ thời đại và được kêu mời mang trong tim tất cả đau khổ của thế giới. Như người môn đệ Chúa Giêsu, người nữ thánh hiến không thể nhắm mắt làm ngơ trước các vấn đề đang đè nặng trên vai con người thời đại, họ không thể giả điếc đóng kín con tim trước lời cầu cứu của một thế giới đang bị dày vò bởi đau khổ và thất vọng. Người nữ tu không thể mang trong mình “trái tim băng giá”, “trái tim mùa đông” nhưng là “trái tim không ngủ yên” luôn bừng cháy nhiệt huyết phục vụ, ngọn lửa của dấn thân. Đây cũng là tinh thần của Công đồng Vaticanô II: “Niềm vui và hy vọng, những đau buồn và lo lắng của con người thời nay, nhất là những người nghèo đói và của tất cả những người đau khổ, cũng là niềm vui mừng và hy vọng, sự đau buồn và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô[64].

Quan sát tổng thể, đặt cái nhìn chi tiết vào mọi khía cạnh của cuộc sống, khám phá ra điều thiếu sót, nhịp đập trái tim người thánh hiến hòa nhịp với bữa đại tiệc của đời sống nhân loại, lưu ý và giải thích hoàn cảnh của tất cả những ai không còn rượu, không còn niềm vui và không được tham dự bữa tiệc, đặc biệt nơi những người gần chúng ta nhất.

Đặc sủng với tư cách của những người sống đời thánh hiến hệ tại ở chỗ vun trồng, ngay cả trong các bổn phận cá nhân, một con mắt hướng về tổng thể trong các tình huống liên quan đến cộng đoàn, đến Hội dòng, đến Giáo phận, đến Giáo hội và xã hội, để có thể lưu ý đến những khoảnh khắc khó khăn, tế nhị và cho chúng một tiếng nói và tiến tới với sự trợ giúp có hiệu quả, để có thể lặp lại hằng ngày như tiếng nói của Đức Maria nói với Chúa Giêsu: “Họ hết rượu rồi” (Ga 2,3), để Đức Giêsu hành động và dấu lạ đầu tiên khởi sắc vinh quang.

Người thánh hiến cũng được mời gọi dấn thân như Đức Maria. Đức Maria đã không tự mãn, nhưng đã kiên trì, đồng hóa bản thân với hoàn cảnh. Các nữ tu cũng phải vượt qua được bề ngoài của cộng đoàn: vượt qua việc dừng lại nơi các điều thiết yếu của đời tu, để vươn tới niềm vui nội tâm, nhiệt huyết và nỗi khát khao làm cho công việc của mình tốt đẹp hơn[65]. Tinh thần của những người của Chúa là luôn sẵn sàng ra đi, dấn thân không mệt mỏi, phục vụ các chi thể đau ốm, các thương tích của Chúa Kitô. Người theo Chúa không ngại khó, ngại khổ, sẵn sàng đi ra khỏi mình đến vùng ngoại biên dù biết rằng đó là cuộc phiêu lưu mạo hiểm, sự an toàn của mình không được đảm bảo, đầy khó nguy trước mắt. Vì biết rằng không bao giờ mình là người thua cuộc, dù không thể làm gì, dù có thể không thay đổi được hoàn cảnh, nhưng ít nhất cũng có thể thốt nên lời cầu nguyện cho một hoàn cảnh khó khăn, bế tắc đang gặp phải và họ tin rằng Chúa sẽ thực hiện quyền năng của Ngài. Như Mẹ Maria đã không sợ gian khổ hiểm nguy, vượt qua con đường dài khó khăn để đi đến thăm viếng chị họ Êlisabeth dù đang trong thời kỳ đầu mang thai, Mẹ không ngần ngại làm phiền Chúa Giêsu[66] nhưng tiến sâu hơn trong đức tin. Sự dấn thân giúp người thánh hiến khám phá ra điều đang thiếu trong mình, đôi khi là những khuyết điểm rất nhẹ: những bước nhỏ tôi cần làm để làm chủ thân xác, tinh thần và tâm trí; vài hành vi thiếu tha thứ và từ bỏ, vài căng thẳng cần làm dịu hay vài từ cần được kiềm chế, một câu nói làm tổn thương người bên cạnh… Và khi càng dấn thân với những hy sinh, người nữ tu càng được kết hiệp với Thầy Chí Thánh trong công cuộc loan báo tin mừng, vì càng trong khó khăn, càng nhận ra sự cần thiết ơn trợ giúp của Thiên Chúa và sự bất lực của mình nếu không có Chúa đồng hành. Những lúc như thế người nữ tu đã làm cho rượu ngon xuất hiện, như kinh nghiệm của vị Tông đồ dân ngoại: “Sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối của tôi… Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh” (2Cr 12,9-10).

Quả thực, để làm được những điều trên, người theo Chúa cần yêu Chúa với một tình yêu không chia sẻ và có Chúa thật sự trong mình. Cần sự thinh lặng, một tâm hồn phẳng lặng bình an, suy đi ngẫm lại trong lòng những biến cố thường nhật, với một tinh thần như Đức Maria. Cần một tâm hồn để Lời Chúa thấm nhập, một tinh thần Thánh Thể để đi sâu vào nội tâm, gắn chặt tình thân với Chúa, lắng nghe để phân định, nhận ra thánh ý Chúa và can đảm thi hành. Điều quan trọng và mục đích chính yếu của tu sĩ là được gặp gỡ và gắn kết với Chúa.

Người thánh hiến, với cả con người, làm việc bởi Mẹ Maria, với Mẹ Maria, trong Mẹ Maria và cho Mẹ Maria, ngõ hầu những điều ấy được thực hiện một cách hoàn hảo hơn bởi Chúa Giêsu, với Chúa Giêsu và cho Chúa Giêsu[67].

1.2. Đời tu mang tinh thần gia nhân trong tiệc cưới

Gia nhân là người thấp kém, người đầy tớ có khi bị đánh đồng như người nô lệ không được coi là con người nhưng như loại tài sản bị sở hữu, không được tính trong xã hội Do Thái thời bấy giờ. Thế mà nơi Cana, họ đóng góp sự cộng tác đắc lực, sự hiện diện của mình để dấu lạ được hoàn thành tốt đẹp. Bằng sự vâng phục, tin tưởng mau mắn làm theo sự điều hành của Đức Giêsu, họ đã trở nên một phần tử không thể thiếu được trong bữa tiệc năm ấy. Trong đời theo chân Thầy Tối Cao, người thánh hiến cũng phải mang tinh thần của người gia nhân.

Nơi Cana miền Galilê năm ấy, chỉ Chúa Giêsu và Mẹ Ngài nói, các gia nhân không nói một lời, họ vâng lời thật chính xác, họ giữ đúng các lời Chúa Giêsu truyền. Trước tiên, họ “làm đầy“, đưa đến mức hoàn hảo những gì còn vơi, những gì chưa hoàn hảo trong truyền thống Cựu ước. Và từ đó họ “múc ra” từ chum đá (tượng trưng cho luật cũ bất toàn) đưa cho ông quản tiệc để được chứng thực (nước đã hóa thành rượu hảo hạng)[68]. “Gia nhân đã múc nước thì biết” (Ga 2,9d) bởi vì họ đã tuân theo lệnh của Chúa Giêsu, theo lời mời của Đức Maria[69]. Sự chính xác của gia nhân khiến chúng ta nhớ lại lời của Đức Giêsu đã hứa cho những người giữ điều răn của Người (x. Ga 14,21). Như vậy, Chúa Giêsu tỏ mình ra cho những người Ngài yêu mến bằng cách đưa Lời Ngài ra thực hành và Người sẽ cùng Chúa Cha ở lại nơi người ấy (x. Ga 14,23). Ai yêu mến Đức Giêsu là gia nhân đích thực của Người, Chúa Cha sẽ quý trọng người ấy (x. Ga 12,26). Gia nhân ở Cana đã chứng nghiệm điều này “phục vụ Đức Kitô – vâng theo Lời Ngài – Đức Giêsu tỏ mình ra”. Nhờ đó, họ được biết “rượu ngon” (một phương diện thực tại của Chúa Giêsu) “từ đâu đến“. Thánh Gioan có nói: “Căn cứ vào điều này chúng ta nhận ra rằng chúng ta biết Thiên Chúa: đó là chúng ta tuân giữ các điều răn của Người” (1Ga 2,3). Như thế, gia nhân trong tiệc cưới như điển hình cho đời “phục vụ – vâng lời” mà Đức Kitô đòi hỏi trong giao ước mới (x. Ga 13,34; 15,24)[70]. Đồng thời độc giả có thể nhận ra điều này là khi các gia nhân làm theo lệnh của Chúa Giêsu là gián tiếp cũng làm theo lời Mẹ Ngài[71]. Như vậy, gia nhân đã vâng phục để tham gia vào sứ mạng của Đấng Cứu Thế, dấu lạ đầu tiên bày tỏ vinh quang Thiên Chúa.

Theo tinh thần gia nhân, trước hết người thánh hiến cũng cần múc nước ra – những thứ cũng quan trọng (nước rất cần cho cuộc sống) nhưng chưa hẳn đã cần thiết cho đời tu (như trong bữa tiệc cần rượu chứ không cần nước); đó có thể là những danh vọng, cái tôi, những thành công hơn người, tài năng, những ước nguyện nhuốm màu trần tục hoặc đâu đó những tư tưởng đậm mùi thế gian. Người tu sĩ đưa đến cho Đức Giêsu để được biến đổi thành những gì hoàn hảo, phục vụ Thiên Chúa và nhân loại tốt hơn. Các đầy tớ đôi khi chẳng hiểu tại sao Đức Giêsu lại sai đổ đầy nước vào chum, cũng thế người gia nhân của Chúa tuân theo những gì Thầy dạy mặc dù chẳng hiểu việc Chúa muốn mình làm. Tin tưởng tuyệt đối, vâng lời, làm theo mọi sự hướng dẫn của Chúa và không tự làm gì nếu không được Chúa chỉ bảo, đó là bí quyết của người theo Chúa. Để làm được điều này, người tu sĩ cần có một tâm hồn lắng nghe để phân định thiêng liêng, phân biệt thần khí và tà khí nhưng luôn kèm thao một sự tín thác, như lời Thánh vịnh gia:

Lạy Chúa, con thấy tư tưởng Ngài khó hiểu biết bao,

 tính chung lại, ôi nhiều vô kể!

Đếm sao nổi vì nhiều hơn cát;

dù có đếm xong con vẫn ở với Ngài[72].

Tiếp đến, đối với người tu sĩ, việc tùng phục này còn đòi hỏi một sự quy chiếu đặc biệt về Đức Kitô, để qua và nhờ Ngài, người tu sĩ thi hành sứ mạng cứu thế[73]. Như Công đồng Vaticanô II trong sắc lệnh Canh tân thích nghi đời tu, khi nói về Đức tuân phục đã làm nổi bật lên 3 khía cạnh thiết yếu của đời theo Chúa đó là: hiến dâng ý muốn mình làm hiến lễ dâng lên Thiên Chúa, kết hợp ý muốn của mình với ý muốn cứu độ của Ngài và noi gương Đức Kitô, Đấng đã đến làm theo ý Cha, phục vụ anh em và hiến dâng mạng sống để cứu chuộc muôn người[74]. Chúa Giêsu, một mẫu gương hoàn hảo tuyệt đối cho sự vâng phục của người tôi tớ, được tiên tri Isaia nói tới trong bốn “Bài ca người Tôi Trung” (Is 42,1-9; 49,1-7; 50,4-11; 53,1-12). Người trút bỏ mọi vinh quang là một Thiên Chúa để trở nên người Tôi Trung hiền lành bị đem đi làm thịt, không kêu ca, không phản kháng, hoàn toàn vâng theo, vâng lời cho đến chết và chết trên thập gia để thi hành thánh ý Chúa Cha và tình yêu nhân loại. Chúa Giêsu thể hiện trái tim của một đầy tớ trung thành với tình yêu và sự phục vụ những người xung quanh bằng việc chữa bệnh, giảng dạy. Cũng vậy, vâng phục là một trong ba lời khấn mà người thánh hiến tuân giữ, là nhân đức đặc biệt cao cả nhất:

“Khấn Khiết tịnh và Khó nghèo, chị em mới chỉ dâng hiến của cải và thân xác. Còn khấn Vâng phục, chị em từ bỏ ý riêng, lòng muốn, là tư sản quý báu nhất của bản thân, để hiến dâng cho Thiên Chúa ý chí, tự do, quyền định đoạt về cuộc sống, với những hành vi, khả năng hành động của mình. Như thế, tất cả con người của chị em được hiến dâng cho Thiên Chúa để phục vụ Nước Trời; Chị em không còn quyền gì trên bản thân và những hành động của mình, nhưng phải để tùy quyền sử dụng của Chúa, theo sự hướng dẫn của Bề trên là đại diện của Người”[75].

Ngoài ra, người thánh hiến là người được tách riêng ra để phụng sự Thiên Chúa và luôn được kêu mời để phục vụ: Ơn riêng Thiên Chúa đã ban mỗi người trong anh em, phải dùng mà phục vụ kẻ khác. Như vậy, anh em mới là những người khéo quản lý ân huệ thiên hình vạn trạng của Thiên Chúa” (1Pr 4,10). Tuy là người tôi tớ, người Chúa chọn được lãnh nhận bao ân huệ của Người, đừng so sánh khả năng với bất kỳ ai và khả năng Chúa ban cho đủ để phục vụ và có thể làm cho dấu lạ xảy ra, chỉ cần cộng tác với ơn Chúa để Chúa làm việc thì người tu sĩ có thể làm được mọi việc vì không có gì ngoài thánh ý Thiên Chúa. Khi làm xong việc gì trước lời khen, tiếng chê, người thánh hiến khiêm tốn đáp lại tôi chỉ là người tôi tớ làm theo những gì Ngài chỉ bảo.

Như vậy, theo tinh thần người gia nhân trong bữa tiệc Cana, người thánh hiến với tinh thần múc cạn tâm hồn để được Chúa biến đổi và đong đầy, chú ý lắng nghe để hiểu lời Chủ, vâng phục hoàn toàn và luôn sẵn sàng phục vụ với tinh thần đức ái.

  • Cùng Đức Maria người nữ tu đến với các gia đình

Tại làng Cana, miền Galilê năm xưa, cùng với Đức Giêsu và các môn đệ, Đức Maria đã đến tham dự tiệc cưới để chia sẻ niềm vui, chúc mừng hạnh phúc cho đôi tân hôn. Nơi đó, một Thiên Chúa làm người đã dấn mình vào cuộc sống với những sinh hoạt của một con người. Cũng tại nơi đó, Thân Mẫu Người đã can thiệp để hạnh phúc đôi lứa không bị tan vỡ, không bị dở dang nhưng đã được khép lại trong lời ca tụng (x. Ga 2,10). Mẹ hiện diện, kêu cầu thay cho đôi tân hôn, qua đó Mẹ đã đưa mọi người đến với Chúa, một Thiên Chúa làm người như bao người và giả sử hôm đó không có Mẹ, có lẽ không ai nhận ra được sự hiện diện của Con Một Thiên Chúa. Một điều đáng chú ý, tại địa điểm Cana năm ấy, chỉ có tên của Đức Giêsu và Đức Maria được nhắc đến còn tất cả những nhân vật khác đều ẩn danh. Điều này đặt trong dụ ý của tác giả Tin mừng thứ tư, gia nhân có thể là mỗi người chúng ta, Chúa luôn muốn sự cộng tác của chúng ta và gia đình tổ chức hôn lễ hôm đó là bất cứ một gia đình nào ngày hôm nay.

Quả thật, trước nguy cơ “thiếu rượu”, “hết rượu” của các gia đình trong thế kỷ XXI người nữ tu nhận thấy các gia đình vẫn luôn cần sự hiện diện của Mẹ. Vì thế cùng Mẹ Maria người nữ tu đến với các gia đình để cũng thấu hiểu, cảm thông sự thiếu thốn trong các gia đình hầu có thể chia sẻ, giúp đỡ, an ủi họ, đặc biệt dâng lên Thiên Chúa lời cầu nguyện cho các gia đình để được trợ giúp.

Tình trạng “thiếu rượu”, “hết rượu”, “cạn rượu” trong các gia đình thời nay là thiếu đi tình yêu dành cho nhau và sự sống bị tấn công dẫn đến rạn nứt trong gia đình. Nguyên nhân là do “yêu tạm” sống thử, sống chung không hôn nhân, kết hôn rồi mà chưa hiểu nhau, ngừa thai, phá thai, ly thân, ly dị ngày càng nhiều và trở thành hiện tượng phổ biến. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II nói: “người thời đại ngày nay là con người mang tâm thức ủng hộ ly dị“.

Liên hội đồng Giám Mục Á Châu cũng nhận định về thực trạng trên:

“Những thực tại mới mẻ làm lung lay nền tảng ổn định của nhiều gia đình. Nền văn hóa tự do toàn cầu nổi dậy, hô hào cá nhân chủ nghĩa, ích kỷ thèm muốn, những lối sống cách suy nghĩ thực dụng, tục hóa. Đàng khác, các gia đình đang phải đối đầu với các phương tiện truyền thông xã hội và các chương trình cưỡng bức hạn chế dân số, kế hoạch hóa gia đình và tình trạng loạn luân gây nhức nhối cho xã hội và giáo hội”[76].

Và một nguyên nhân trên hết là nơi các gia đình không có giờ cầu nguyện và thời gian sinh hoạt chung.

Tuy nhiên, ĐTC Phanxicô trong tông huấn “Niềm vui của tình yêu” nhìn nhận với một bình diện khác:

“Lịch sử một gia đình được đánh dấu bởi mọi loại khủng hoảng, nhưng đó cũng là điều góp phần tạo nên vẻ đẹp kịch tính của nó. Cần giúp các đôi vợ chồng hiểu ra rằng việc thắng vượt một khủng hoảng không làm cho mối tương quan của họ kém mãnh liệt hơn nhưng cải thiện, làm ổn định và làm cho rượu hiệp nhất được chín muồi hơn… mỗi cuộc khủng hoảng được xem như một cơ hội để có thể uống với nhau thứ rượu ngon hơn”[77].

Trước những thực trạng đó, người nữ tu vẫn rất cần sự hiện diện cách thực sự bằng con đường đi vào các gia đình “trở nên người lân cận trong gia đình[78] trong khi thi hành công tác mục vụ trong các giáo xứ. Để làm được điều đó trước hết đi từ cách tiếp cận thể lý đến tiếp cận tâm lý, hiểu nhau và tạo sự gần gũi, tin tưởng trong các tương quan và dành thời gian để lắng nghe tiếng than của người dân. Với các bà mẹ, người nữ tu giúp họ nhận ra hạnh phúc của một người nữ được Thiên Chúa đặt để nơi mình, vai trò người phụ nữ trong gia đình. Đồng hành với các bạn trẻ, tiếp xúc trực tiếp với thiếu nhi, khuyến khích mọi thành viên tham gia những sinh hoạt chung… đó là cách trở nên một nữ tu của mọi người để nhận được nỗi lòng chia sẻ của các gia đình. Ngày nay, người ta thích ngồi tại nhà dùng phương tiện truyền thông để giao lưu, gặp gỡ nhau, nên người nữ tu càng cần hiện diện, giúp đỡ cách trực tiếp, cách cụ thể như: đến thăm nom, dọn nhà, chăm sóc những người liệt, cô đơn… chứ không chỉ dừng lại ở lý thuyết qua việc đồng hành trong các giờ dạy giáo lý, các buổi đọc kinh tại nhà thờ. Khi xã hội càng văn minh, con người ngại việc tay chân thì càng đòi hỏi sự dấn thân, không sợ những bụi bặm bên ngoài do công việc của người nữ tu. Nên tổ chức các buổi chia sẻ và cầu nguyện trong các gia đình tại giáo xứ phục vụ. Tại lớp giáo lý Hôn nhân hãy đưa ra các đề tài thảo luận, khuyến khích và giúp đỡ để đôi bạn có thể bày tỏ khao khát của mỗi người nơi cuộc hôn nhân sắp tới, họ mong muốn gì nơi nhau, cùng nhau xây dựng một gia đình tương lai như thế nào[79]

Không chỉ bằng kiến thức đạo đời được trau dồi trong quá trình huấn luyện và kinh nghiệm cuộc sống nhưng bằng cả trái tim người nữ dành cho Thiên Chúa, người thánh hiến chăm sóc các linh hồn của Chúa với một tình yêu phổ quát.

  1. Hình mẫu Maria trong linh đạo Mân Côi

Linh đạo giàu chất Thánh Mẫu của Dòng dễ dàng thấy được từ danh hiệu Dòng: Dòng Chị Em Con Đức Mẹ Mân Côi Bùi Chu (tiếng La Tinh: Congregatio Filiarum Mariae A Sacrosanto Rosario de Bui Chu)[80].

Theo thời gian, từng thế hệ nữ tu đã sống và thực hành đặc sủng của Hội Dòng với những nét đặc thù thể hiện bản chất và tinh thần của dòng. Từ đó hình thành một Linh đạo, một lộ trình riêng bước đi theo Chúa Kitô, được Giáo hội chuẩn nhận. Dựa vào yếu tố làm đời sống người nữ tu Mân Côi. Hiến luật Dòng số 42 xác định linh đạo Mân Côi là linh đạo Maria: “Với tinh thần đức ái trọn hảo, chị em Mân Côi cùng Mẹ Maria sống mầu nhiệm cứu độ và mang ơn cứu độ đến cho mọi người[81].

2.1. Hình mẫu lý tưởng của chị em Mân Côi là Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, Thân Mẫu Đức Giêsu. Quả vậy, Đức trinh nữ Maria là gương mẫu tuyệt hảo của đời sống thánh hiến và tông đồ chị em Mân Côi. Mẹ đã hiến dâng đời mình cho Thiên Chúa để cộng tác với Chúa Con trong công cuộc cứu rỗi nhân loại với tinh thần vâng phục tuyệt đối: “Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời Ngài truyền dạy[82]. Là con cái Mẹ, mang thánh hiệu Mẹ, chị em noi gương Người, sẵn sàng để Chúa tự do sử dụng và sai đi với lòng yêu mến để trở nên người tôi tớ trung thành phục vụ nước Trời[83]. Theo nghĩa đó, trong Hiến chương 12:

“Trong đời sống thánh hiến, chị em có một mẫu gương sáng chói và hoàn hảo là Mẹ Maria, bề trên tối cao của chị em. Thực vậy, Mẹ Maria đã yêu thích và suốt đời cẩn thủ đức trinh khiết vẹn toàn, đã liên kết chặt chẽ với cuộc khổ nạn của Chúa Kitô và luôn thưa lời “xin vâng” với Thiên Chúa trong mọi cảnh huống của cuộc sống. Chị em Mân Côi noi gương Mẹ quảng đại tận hiến cho Thiên Chúa để được trở nên cộng sự viên của Chúa Kitô trong việc cứu độ trần gian”[84].

Hành trình thiêng liêng của chị em có trọng tâm là cùng Mẹ bước theo Đức Kitô trong hành trình cứu độ, bằng việc chiêm ngắm và sống các mầu nhiệm: nhập thể, rao giảng tin mừng, khổ nạn và phục sinh trong chính cuộc đời mình[85].

2.2. Đức Maria là Đấng Bảo Trợ Dòng: Đức Cha Đôminicô Hồ Ngọc Cẩn – Đấng sáng lập đặt Dòng dưới sự bảo trợ của Mẹ Maria Mân Côi[86] với mục đích tối thượng là vinh danh Chúa, hiển danh Mẹ và thánh hóa bản thân[87]. Cũng vậy, theo chứng tích lịch sử Dòng được ghi lại: Trong một công hội của Dòng không dùng lá phiếu nhưng đã đồng thanh bầu Mẹ Maria làm bề trên tối cao dưới tước hiệu Nữ vương rất thánh Mân Côi, làm người huấn luyện và làm mẹ của Dòng.

Ngay từ buổi sớm được Mẹ Mân Côi đồng hành qua lời kinh Tận hiến, chị em nhắc lại hằng ngày lời đã tuyên khấn “Qua bàn tay Mẹ Maria chúng con xin lặp lại ý chí tận hiến cho Thiên Chúa quyết tâm sống một ngày mới đẹp lòng Chúa, hữu ích cho mọi người. Ave Maria…”[88] và kết thúc một ngày trong lời nguyện của giờ kinh tối: “Lạy Cha Chí Thánh, Cha đã quy tụ chúng con lại trong nhà Cha dưới bóng Mẹ Maria Mân Côi...”[89].

Hơn nữa, là cộng đoàn thờ phượng,

“Chị em trung thành tham dự các giờ kinh chung, hiệp nhất trong một tâm tình dưới sự hướng dẫn của Mẹ Maria Mân Côi. Chị em học nơi Mẹ thái độ chuyên cần cầu nguyện, chăm chỉ lắng nghe và thực hành Lời Chúa, chị em luôn tin tưởng ở lời cầu bầu hết sức hiệu nghiệm của Mẹ, như xưa Mẹ đã can thiệp để cứu giúp loài người tại tiệc cưới Cana (x. Ga 2,1-12)”[90]. “Cũng như cộng đoàn Giáo hội tiên khởi, đã được Đức Maria ở giữa dạy cho biết cầu nguyện, chia sẻ đời sống, đón nhận Chúa Thánh Linh để đi rao giảng Tin mừng (Cv 1,14), cộng đoàn Mân Côi cũng phải là cộng đoàn thờ phượng và thực thi Đức Ái, dưới sự chăm sóc của Mẹ Maria, để được tràn đầy Thánh Thần chu toàn sứ mệnh tông đồ của Dòng”[91].

Trong lời tuyên khấn Dòng, chị em “Nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi, trước mặt Mẹ Maria Mân Côi, chị em thề hứa với Chúa… chị em xin Mẹ Maria giúp để trung thành…”[92].

Sau cùng, sự hiện diện của Đức Maria được thể hiện ngay cả trong những điều thiết yếu của cuộc sống, qua lời chào hàng ngày khi gặp nhau “Ave Maria” chị em chào Đức Maria trong chị em, một lời chào thân thiện, gần gũi và mang đặc trưng nữ tu Mân Côi[93]. Và từ khi chuẩn bị bước vào giai đoạn Tập viện, mỗi chị em tự chọn một tên thánh bổn mạng và luôn kèm theo tên Dòng là “Maria”[94].

2.3. Bên cạnh đó không thể thiếu khía cạnh chị em tôn sùng Đức Mẹ qua việc siêng năng lần chuỗi, suy gẫm thấm thía các mầu nhiệm Mân Côi và trách nhiệm nhiệt thành làm tông đồ cho Mẹ trong đời sống của chính mình[95], như lời ĐCTP: “Chị em được hân hạnh làm con cái Đức Mẹ Mân Côi, thì chị em phải lo cho việc sùng kính Đức Mẹ chí thiết, cho xứng đáng làm con cái Đức Mẹ Mân Côi[96].

Ngay từ giai đoạn Tiền tập, chị em được học hiểu về Thánh Mẫu học, Mân Côi học và được huấn luyện để gia tăng lòng yêu mến Mẹ Maria, siêng năng lần chuỗi Mân Côi[97]. Mỗi ngày, chị em đọc kinh Mân Côi chung một tràng 50[98]. Ngoài ra mỗi chị em mang tràng hạt trong mình, có thói quen lần hạt khi đi đường, khi chờ đợi, trên xe và lúc rảnh rỗi[99]… và ước gì lời Kinh Kính Mừng luôn tươi nở trên môi miệng chị em, nhất là trong giờ chết, chị em được chút hơi thở cuối cùng trong khi miệng đọc lời kinh của Mẹ[100]. Các nữ tu của Mẹ yêu thích lời kinh Mân Côi để lời kinh thấm nhuần vào cuộc sống, kết hợp với tâm tình của Mẹ và có thể chọn kinh Kính Mừng là lời tâm niệm liên lỉ trong cuộc đời… Nhờ đó, các chị em càng được thấu hiểu hơn các Mầu nhiệm ơn Cứu độ, được đi sâu vào cuộc đời Chúa Giêsu và tâm hồn chị em ngày càng được biến đổi và thánh hóa[101].

Như vậy, cả cuộc đời người nữ tu Mân Côi thấm nhuần tinh thần của Mẹ, được gắn kết chuỗi các mầu nhiệm với sự hiện diện của Mẹ Maria để mọi con đường người nữ tu Mân Côi đi đều có một đích đến với Tác giả ơn gọi và cuộc sống mình:

“Đời con một chuỗi Mân Côi

Hạt Thương xen lẫn hạt Vui, hạt Mừng.

Lại thêm hạt Sáng tưng bừng

Như cây nến cháy nhỏ từng lời kinh”

 

Vũ Duy Thống

  1. Hướng tới sự hiện diện tích cực

Như đã nói sự hiện diện của Thân Mẫu Đức Giêsu là sự hiện diện tròn đầy vào thời khắc đó, tại địa điểm Cana, Mẹ đã đáp ứng được nhu cầu và thực tại thời bấy giờ, một sự hiện diện đúng thời điểm, đạt được thành quả viên mãn: “vinh quang Thiên Chúa được tỏ hiện”[102]. Mẹ đóng đúng vai trò của mình: Mẹ Chúa Giêsu, Mẹ Đấng Cứu Thế, Mẹ đưa những con người của thời điểm đó đến với Con của Mẹ. Ngày nay, trong một thế kỷ văn minh, người nữ tu cần có những suy nghĩ và cả sự hiện diện cách mới mẻ, tích cực không chỉ mang ý nghĩa đáp ứng hay chạy theo nhu cầu thời đại nhưng hơn cả là sự hiện diện của một con người có Chúa, người nữ tu cần tạo cho mình một hình tượng riêng, hình ảnh của bản thể mang đặc trưng người của Chúa trong thời đại. Một nữ tu không hòa trộn nhưng hòa nhập với các thành viên trong cộng đoàn, xây dựng nên cộng đoàn thành một khối hiệp nhất – dấu chứng của nước Trời.

3.1. Cá nhân hiện diện tròn đầy

Thời nay, người ta sống ảo, thiếu thực tế, sự hiện diện của con người bên nhau càng ngày càng thưa thớt. Chỉ cần một chiếc điện thoại bằng bàn tay người ta có thể nói chuyện và nhìn thấy nhau, trao đổi mọi thứ. Cũng thế, những “văn hoá nhanh nhạy” này cũng len lỏi vào đời tu, người thánh hiến hiện đại với những phương tiện thông minh, những khoảng trống được lấp đầy không bằng sự hiện diện nhưng qua truyền thông. Dẫn đến một thực tế tuy đau buồn nhưng chúng ta cũng phải chấp nhận: người tu sĩ chỉ mở cửa trong các giờ chung. Hiện trạng tu sĩ cô lập, khép kín ngày càng nhiều và nghe đâu đó những tiếng kêu đáng buồn: “tôi không biết tin vào ai”. Tu sĩ không còn tin tưởng nhau thì làm sao có thể chia sẻ cho nhau những kinh nghiệm, những tâm tư thầm kín trong con người mình.

Từ những điều đáng lo lắng trên, trước hết người tu sĩ cần nhìn lại và canh tân lại sự hiện diện của chính mình.

Giữa một thế hệ của sự vô “xấu hổ” trước Thiên Chúa và vô cảm giữa con người với nhau, sự tách biệt của các cộng đoàn tu trì, sự hiện diện cách tròn đầy, hiện diện thật sự và thường xuyên[103] của người thánh hiến ngày càng cần thiết. Hiện diện bên Chúa, hiện diện nơi cuộc sống của tôi, hiện diện bên cạnh và đồng hành cùng chị em đó là mối tương quan đa diện trong sự có mặt của một tu sĩ. Để hiện diện cách tròn đầy đòi hỏi phải biết mình, biết mình là một sự khôn ngoan làm cho chúng ta nhận ra những điểm yếu và điểm mạnh của mình, hầu có thể đảm nhận vai trò, trách nhiệm nào đó và “để nhận biết mình là ai, ta phải đặt bản thân chúng ta trong hai mối tương quan với Chúa và với tha nhân[104].

Hiện diện bên Chúa, người thánh hiến như bao người khác là một con người tội lỗi, tất cả đều nhờ tình yêu Thiên Chúa mà được hiện hữu, mang trong mình hình ảnh Thiên Chúa có lý trí, ý chí, tự do và đặc biệt có trái tim để yêu thương (mà yêu thương là phẩm tính cao nhất của Thiên Chúa). Vì thế, được làm người đã là hạnh phúc và mỗi người mang nơi bản thân một sứ điệp của Thiên Chúa. Sự hiện diện tròn đầy đó cũng đồng nghĩa với ý thức mình chẳng có gì, là hư vô nhưng tất cả được lãnh nhận từ Thiên Chúa nên cần sống khiêm tốn và hơn nữa trong vai trò là một nữ tu, sống ba lời khấn cách triệt để hơn. Giống như Mẹ nơi Cana năm xưa Mẹ biết mình chẳng có gì, cũng chẳng có quyền gì trên chính Con của Mẹ nên Mẹ hoàn toàn vâng phục, tin tưởng vào sự ra tay uy quyền của Thiên Chúa.

Mỗi cá nhân hiện diện một nơi nào đó không phải chỉ để cho đông đủ nhưng là với hết con người mình. Ý thức tôi hiện diện bên tôi để biết mình, để sửa mình, hiện diện bên tôi để biết tôi đang làm gì, sống kết hợp với Chúa chứ không phải để tôi một mình tìm thú vui riêng. Một mình một phòng, một điện thoại, một vi tính, cười với màn hình, nói chuyện với người ở nơi xa, để rồi quên đi sự hiện diện của người ngay bên, chẳng cần nói chuyện, xuất hiện ít nhất có thể, để đừng đụng chạm đến ai, tôi được yên thân. Cũng vậy hiện diện là để sống cùng, sống với, sống cho, đi vào tương quan và bước vào cuộc đời người khác. Hiện diện bên người để tránh khỏi con người cô lập, đóng cửa với các tâm hồn khác, an tâm tự tại trong một sự bình an ảo; hiện diện bên người khác để tôi biết tôi thiếu gì và người khác cần gì.

Thứ đến, sống trong một thời đại luôn đòi hỏi sự mới mẻ, người nữ tu thời nay cũng cần tạo cho mình một hình tượng riêng đầy tích cực. Tạo cho mình một nét đặc trưng của người theo Chúa, được Chúa hoạt động qua mình như Mẹ Têrêsa Calcutta, thánh Lucia của Fatima… Đó chỉ là một số rất nhỏ, còn lại biết bao nữ tu nữa, họ tạo cho mình những hình tượng cho riêng mình không phải để được biết đến nhưng để được Thiên Chúa đoái nhìn. Đâu đó những nữ tu sống âm thầm phục vụ những trẻ nhỏ thiếu tình thương, người già cả cô đơn, những nữ tu phục vụ trong các trại tâm thần… những nữ tu khiêm tốn với những công việc bình thường nhưng đặt vào đó tình yêu phi thường (Mẹ Têrêsa Calcutta) như chăn heo, coi cổng, đánh chuông… Thời nay cũng như mọi thời, cũng luôn cần những nữ tu hy sinh, hãm mình cầu nguyện cho Giáo hội, truyền giáo, cho các tội nhân… Không thể không kể đến các nữ tu trên giường bệnh can đảm chịu bệnh và gắn kết sự đau đớn của mình với cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu.

Giữa những chật chội, bon chen, những đòi hỏi đa diện, đa chiều của cuộc sống, người nữ tu thấy mình cần phải trở nên mỏng manh, nhỏ lại. Điều đó không có nghĩa là để tàn lụi, yếu ớt như phận nữ nhi nhưng là để phó thác, tin tưởng vào Đấng Cao Cả, Đấng là tác giả cuộc đời và ơn gọi của người thánh hiến, cũng không phải là bị đè bẹp trong cộng đoàn, trong xã hội, nhưng đó là sự mỏng manh nhẹ nhàng thanh thoát trong đời tu, sự hiến thân phụng sự Thiên Chúa. Một con người nhẹ nhàng với đời sống nội tâm sâu sắc để dễ bay lên cao những tư tưởng thanh cao, không phải là để thoát đời, nhưng để dễ dàng len lỏi vào dòng đời, hòa nhập với tha nhân cách dễ dàng. Người nữ tu chân yếu tay mềm nhưng một niềm xác tín vào tiếng gọi của Thầy Giêsu, đủ sức sống vui tươi trong đời dâng hiến và hăng say trong sứ mạng Chúa trao.

Và dù có được một hình tượng mới mẻ đến đâu thì đối với người viết, ngoài yếu tố người nữ tu yêu Đấng đã chọn mình, cảm nhận được sự hiện diện và tình yêu Thiên Chúa dành cho mình và phải sống thế nào để có giá trị như câu nói của Albert Einstein: “Đừng cố gắng để trở thành con người thành công mà hãy cố gắng để trở thành con người có giá trị“. Và cho dù chỉ là nữ tu không ai biết đến nhưng mang trong tâm một vì Thiên Chúa hiện diện thì phải làm gì để Đấng ấy được tôn vinh, được hành động nhờ và trong mình và không bao giờ bản thân là một đơn lẻ nhưng là một với Chúa. Người viết tạo và sống một hình tượng người nữ tu của giây phút hiện tại và mang ước mơ của tương lai phục vụ trong âm thầm, mang trong mình sự hiện diện hiền lành, đơn sơ, chân thành. Tôi phải luôn là tôi, dệt đời mình bằng cách tích góp từng “giây thánh” để có thể kết nên một “chuỗi thánh“. Không mệt để chạy theo nhu cầu của người dân nhưng dừng lại để đi tìm lại mục đích đời mình trong Chúa bằng đời sống cầu nguyện, trong cõi lòng mình qua sự tập luyện “sự sống bề trong”.

Một cá nhân hiện diện tròn đầy cũng có nghĩa là người sống ý nghĩa cuộc đời mình, còn gì hơn khi nhận ra vai trò cuộc đời mình, vai trò được Chúa đặt để và sống trọn vai trò ấy. Vì “chỉ khi chúng ta khám phá ra giá trị đáng kể hy sinh đời sống mình, cuộc sống của chúng ta mới đích thực trở nên của con người. Giá trị mang đến cho chúng ta sự hào hứng và điều gì đó để sống cho[105]. Có thể vai trò đó chỉ là người chuẩn bị, đứng sau sân khấu, không bao giờ được người khác biết đến nhưng luôn chu toàn trách nhiệm, để người khác thành công trên sân khấu và đặc biệt để Thiên Chúa được tôn vinh đó là niềm vui, hạnh phúc.

3.2. Đời sống cộng đoàn – dấu chứng sự hiện diện nước Trời

“Đời sống cộng đoàn là một trong những yếu tố làm nên đời tu trì. Như một Giáo Hội thu nhỏ, đã được Chúa Kitô thiết lập trên nền tảng Lời Chúa, được nuôi dưỡng bằng Phụng vụ, Giáo Lý đặc biệt nhờ Bí tích Thánh Thể với tinh thần Đức Ái trọn hảo. Cộng đoàn là môi trường lý tưởng để tăng trưởng đời sống thiêng liêng và đức ái cho các thành viên”[106].

Môi trường cộng đoàn không thể thiếu cho người sống đời thánh hiến vì đây là nơi tốt nhất để tìm ý Chúa và ngược lại để Thiên Chúa bày tỏ ý định của Ngài. Qua cộng đoàn, người tu sĩ lắng nghe được tiếng Chúa, bởi Chúa muốn dùng cộng đoàn làm phương tiện chuyển tải Lời Ngài. Vì thế, cộng đoàn tu vẫn luôn là một mầu nhiệm đào sâu và khám phá[107]. Tương tự, Công đồng Vaticanô II cũng quả quyết: “Thiên Chúa muốn mọi người hình thành một gia đình duy nhất, và họ cư xử với nhau như anh chị em. Trong thực tế, mọi người được xây dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa và được mời gọi đến cùng một mục đích là chính Thiên Chúa“. Những lời này đã được phát triển từ câu nói đầy hy vọng của Chúa Giêsu: “Tất cả anh em đều là anh em với nhau” (Mt 23,8). Một cộng đoàn tu trì đích thực có thể là một “thiên đàng tại thế”, nơi đó mọi phần tử cảm nghiệm được niềm vui và hạnh phúc, sự bình an và hòa hợp, yêu thương và hiểu biết, đón nhận và chấp nhận. Nơi đây, mọi thành phần đều đồng trách nhiệm xây dựng thiên đàng này. Nhờ đó, những con người sống động bên nhau, người theo Chúa cảm thấy được tái sinh và triển nở trong sứ vụ.

Cộng đoàn nơi nâng đỡ ơn gọi bằng tình yêu thương

Trước hết, để cộng đoàn là nơi yêu thương thì mỗi thành viên trong cộng đoàn là một sự hiện diện tròn đầy với Thiên Chúa, với tha nhân và với cả chính mình. Tình huynh đệ đời tu là sống trong trái tim nhau, mở cửa cho người khác bước vào và mình có thể đi vào cõi lòng người khác[108]. Mỗi nữ tu không thể là nguyên nhân gây “ùn tắc” tuyến đường giao thông “yêu thương” trong cộng đoàn.

Mỗi người đều phải công nhận rằng chúng ta không chọn nhau để đến ở với nhau nhưng ơn gọi của chúng ta là đến từ Thiên Chúa, Ngài là tác giả ơn gọi và mỗi người đều được Ngài gọi cách khác nhau, trong các môi trường, hoàn cảnh khác nhau… đến đây để trở nên một cộng đoàn tu trì, để chung một lý tưởng duy nhất phụng sự Chúa. Vì thế, chúng ta cần coi trọng ơn gọi của người khác đó là cách tôn trọng quyết định của Thiên Chúa. Cộng đoàn đích thực mà Thiên Chúa nhắm đến gồm những người cần nhau vì nhau và cho nhau. Mỗi người chỉ là khí cụ nhỏ bé mà Thiên Chúa dùng để phục vụ tha nhân, đặt bên người khác, không có một sự ngẫu nhiên được đặt bên cạnh người khác. Vì thế, sự hiện diện của mỗi người là quan trọng, một cộng đoàn trinh nữ đầy ắp tình yêu của mỗi người với Đấng Lang Quân, tình yêu với chị em được san sẻ, tròn đầy không chỗ trống sẽ làm đời tu của các thành viên nên trọn hơn, đầy hơn và sẽ bớt đi sự chia sẻ với những người bên ngoài hay tìm kiếm sự giải tỏa nơi tạo vật. Và trách nhiệm mỗi thành viên trong cộng đoàn,

“Phải luôn duy trì bầu khí hòa hợp ấm cúng gia đình, và phát triển tình yêu thương thân thiện giữa chị em. Tình thương ấy phải trong sạch, siêu nhiên và thân mật, phát xuất từ tình yêu dịu hiền của Chúa Kitô, có đủ sức giúp chị em luôn trung thành với tình yêu chuyên nhất của Người”[109] .

 

Như thế, cộng đoàn hạnh phúc cũng đòi hỏi mỗi thành viên có bổn phận, đồng trách nhiệm, cùng trao đổi chứ không bị động, ù lỳ; cộng đoàn không tồn tại khuynh hướng “cào bằng[110] tức là đặt để một tiêu chuẩn phải được theo cho tất cả, một đời sống an toàn thoải mái, nhưng không có chỗ cho cá nhân sống đời sống riêng của họ hay một đời sống “an phận thủ thường“. Mỗi người hãy mang trong trong tim mình tất cả những nỗi đau, thao thức, những khó khăn, thiếu thốn của cộng đoàn, của hội dòng. Mỗi thành viên hãy đón nhận và chạm đến những nhức nhối, vết thương nơi cộng đoàn mình đang hiện hữu và mang một tâm thức xây dựng cộng đoàn đừng như người dưng, người ở trọ nơi cộng đoàn.

Thử hỏi bản thân sự có mặt của chúng ta là thực hay chỉ như một cái bóng? Quả thực, có thành viên trong cộng đoàn mà như một cái bóng, không ai thấy hoặc bị người khác bỏ qua khi thấy hoặc như không thấy hay thấy nhau chỉ thêm tức giận. Nhờ việc ý thức mỗi sự hiện hữu là một quà tặng của Thiên Chúa và hơn nữa sự hiện hữu của một người trong cộng đoàn thì vai trò và chỗ đứng của mình trong cộng đoàn càng được xác định rõ ràng và chính xác hơn. Nên chúng ta cần vác thánh giá đỡ cho nhau, lắng nghe nhau để nghe được những ẩn khuất bên dưới những lời nói những cảm xúc, nhận ra thông điệp người ấy muốn truyền tải[111], để chia sẻ và đồng hành cùng nhau. Nơi cộng đoàn đừng loại ai ra khỏi tầm nhìn của mình, đừng để ai bên mình mà bị lạc lõng. Trong bất kỳ lỗi của ai nơi cộng đoàn dù là từ lỗi nhỏ hay đến chuyện lớn như chuyển ơn gọi, không bao giờ tôi là người vô tội nhưng trong đó luôn có lỗi của tôi cách trực tiếp hay gián tiếp, không giúp họ làm một điều gì đó hoặc thiếu cầu nguyện cho họ.

Và chúng ta cần đặt niềm tin nơi nhau vì niềm tin là yếu tố cần thiết của cộng đoàn. Lòng tin không chỉ là thái độ sống của một người mà đáng nói hơn chính là cơ hội giúp người khác được tin lấy lại niềm tin đã mất, dựng lại những gì đã đổ vỡ, hàn gắn những gì đã tan nát, lòng tin của người này trở thành điểm tựa cho người kia vịn vào mà đứng dậy, là khung nối kết các thành viên có thể chung vai xây đắp ngôi nhà chung là cộng đoàn[112]. Và chỉ khi khiêm hạ người ta mới có thể dẫn chúng ta đến sự hiệp nhất và hiệp nhất mang lại cho chúng ta bình an, một sự bình an thật sự nuôi dưỡng ơn gọi cho người thánh hiến.

Cộng đoàn Đức Ái thể hiện qua sứ vụ

Cộng đoàn nơi chắp cánh ước mơ, lý tưởng và tự tin để người thánh hiến ra đi thi hành sứ vụ cách sung mãn, người này là động lực cho người kia, cộng tác để Tin mừng Chúa được đưa đến mọi nơi. Người xưa có câu:

“Một cây làm chẳng nên non

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”

 

Đó là sức mạnh của sự hợp tác, hiệp nhất trong một tâm hồn và một tấm lòng.

Như vậy, cộng đoàn đích thực nâng đỡ nhau bằng lời cầu nguyện, bằng tình yêu, nơi không có “hàng rào vô hình” cản trở để sứ vụ luôn được thi hành cách đúng ý Chúa nhất. Và sức mạnh cộng đoàn được thể hiện nơi sứ vụ của các thành viên, nên mọi thành quả do công việc tông đồ là của Thiên Chúa và thuộc về cộng đoàn, vì “mỗi công tác tông đồ, dù do cá nhân đảm nhiệm, đều là công việc chung của Dòng. Cộng đoàn chịu trách nhiệm, chị em thực hiện nhân danh cộng đoàn[113] đó cũng là sự quân bình giữa cá nhân và cộng đoàn.

Thiết tưởng nơi cộng đoàn mọi thành viên sẽ học hỏi nhanh nhất vì tính cộng đồng và tập thể rất cao, nơi đây khả năng của mỗi người được bộc lộ và thúc đẩy phát triển. Thật hạnh phúc khi những người được cùng sai đi biết cộng tác với nhau hết tâm lực của mình; sự thiếu hụt, những kẽ hở, thiếu sót, điểm yếu của người kia được lấp đầy bằng khả năng, sự hiểu biết bởi người được cùng sai đi trong sứ vụ. Nhờ đó, sự hiệp nhất, yêu thương làm nên sự tròn đầy của cộng đoàn và mọi người nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa.

Mỗi người một ơn riêng, mỗi người một đặc sủng và mỗi người đều có một chút “rượu” trong đời mình. Nếu như mỗi người biết mở rộng lòng mình ra để chung chia chút ơn, chút “rượu” mà Chúa đã ban cho mình thì những đám tiệc sẽ nồng hơn hay nói gần hơn một chút là những người cùng đồng hành sẽ hạnh phúc biết mấy và rượu thơm ngon sẽ được tràn ra cho những người mà họ sẽ gặp gỡ. Bên cạnh đó, cũng đòi hỏi mỗi người phải thực sự cắt bỏ ý riêng, sự ghen ghét đố kị, sự hẹp hòi thu vén để phục vụ cho một lợi ích chung.

Như một dấu chỉ nước Chúa khi các thành viên coi cộng đoàn là nơi có thể chia sẻ tình yêu thương và thân mật, có thể đến và biết rằng các thành viên quan tâm đến nhau, nơi được chấp nhận vì con người tôi chứ không phải việc tôi làm, được quý trọng vì tôi là người và là tu sĩ. Cộng đoàn cũng là nơi cùng tuân giữ các lời khấn và dấn thân cho sứ vụ. Cộng đoàn thánh hiến hiện hữu là vì Nước Trời.

KẾT LUẬN

Một người nữ trong muôn người được Thiên Chúa đoái đến và tuyển chọn làm Mẹ của Con Thiên Chúa theo nhân tính. Người nữ đó là một người mẹ như bao người mẹ khác. Mẹ sinh ra, lớn lên trong gia đình với những truyền thống Do Thái và sống trong thời mong đợi Đấng Mêssia, con ông thánh Gioakim và bà thánh Anna. Mẹ đính hôn với thánh Giuse, người được mệnh danh là người công chính. Với lời thưa “xin vâng” bằng cả tâm hồn, Mẹ cưu mang Con Thiên Chúa do quyền năng Chúa Thánh Thần và Mẹ trở thành Mẹ Thiên Chúa. Thế mà, Mẹ không chút cao ngạo, Mẹ khiêm nhường trú ẩn nơi Con mình. Vì thế, Mẹ mang danh Thân Mẫu Đức Giêsu. Mẹ vui mừng, tin tưởng, phó thác và làm cho danh này đến với những người mà Mẹ gặp gỡ và Mẹ để danh Chúa Giêsu được biết đến nơi mình. Từ danh tánh đến sự hiện diện của Mẹ mang đầy dấu ấn nơi cuộc đời người Con, trong từng biến cố quan trọng, cách riêng nơi bước ngoặt cuộc đời của Đức Giêsu nơi tiệc cưới Cana.

Một chứng từ Kinh thánh: Tiệc cưới Cana Ga 2,1-12 mời gọi độc giả tìm về nguồn, tìm hiểu bản văn nơi có sự hiện diện của Thân Mẫu, một người nữ trong Thánh kinh. Về Cana – nơi mang danh miền đất dấu lạ có vị trí cụ thể hay Cana nơi lòng mỗi người hướng tới khi cần rượu. Tuy là vùng đất kinh thánh nhỏ bé về địa lý nhưng lại được chọn là nơi để khai mạc sứ vụ của Con Thiên Chúa qua dấu lạ đầu tiên, biểu lộ quyền năng mãnh liệt của Ngài mà cần đến sự cộng tác của Mẹ. Tiệc cưới Cana hướng người ta đến tiệc cưới ngày sau hết, một bữa tiệc trọn vẹn của Con Chiên Thiên Chúa.

Tìm về văn hóa Do Thái thời Mẹ để hiểu được hoàn cảnh, môi trường sống của Mẹ. Đồng thời tìm nguyên nhân, diễn tiến, ý nghĩa dấu lạ đầu đời khai mạc sứ vụ công khai của Đức Giêsu.

Một nền thần học Thánh mẫu về sự hiện diện của Đức Maria nơi tiệc cưới Cana. Bắt đầu từ trái tim nhạy bén của Thân Mẫu đã làm nên sự hiện diện của Mẹ và sự hiện diện ấy là yếu tố đảo lộn tình thế nơi tiệc cưới thiếu rượu. Sự hiện diện của Mẹ lúc đó thật sự là quan trọng hay có thể nói là không thể thiếu để những người có mặt nhận ra sự hiện hữu của Con Một Thiên Chúa là Chúa Giêsu Kitô. Mẹ là chiếc cầu nối, nối con người với Chúa và con người với nhau. Mẹ đã góp phần của mình với Thiên Chúa để làm nên kỳ tích Cana mà đến muôn đời muôn thuở người ta vẫn nhắc đến. Trong vai trò người mang sứ điệp yêu thương của một người phục vụ, Mẹ đã cộng tác vào chương trình cứu độ của Con Thiên Chúa nơi Mẹ hiện diện.

Đồng thời, con đường Tin mừng của Đức Maria, một con đường nước nhẹ nhàng nhưng mãnh liệt, một con đường của tâm hồn xây dựng bằng cuộc sống đầy kinh nghiệm gắn kết của Mẹ với Con Thiên Chúa. Một tình yêu trong tâm hồn được lan tỏa làm bài học cho con cái Mẹ. Con đường đó đi qua tâm tư của Mẹ với Thiên Chúa, với loài người, lối mở đưa người khác đến với Thiên Chúa bằng niềm tin, tình yêu và phó thác. Người đi trên con đường ấy phải sống di chúc thiêng liêng của Mẹ và đi theo Mẹ đến nơi để gặp Đấng con người tìm kiếm.

Hơn nữa, sự hiện diện của Mẹ mang đậm biểu tượng. Mẹ không chỉ hiện diện nơi niềm vui cuộc đời với dấu lạ viên mãn nước hóa thành rượu, Mẹ còn có mặt dưới chân Thập giá, nơi diễn ra sự cùng cực của đau khổ với nỗi lòng người mẹ. Mẹ tượng trưng cho một Evà mới, người mẹ của chúng sinh, trung thành dâng hiến.

Một bài học về cách thế hiện diện cho người hậu thế. Tiệc cưới Cana, nơi in đậm dấu ấn sự hiện diện của Thân Mẫu Đức Giêsu. Mẹ đã yêu, đã hành động và tất cả hướng về Thiên Chúa để Thiên Chúa bộc lộ quyền năng nơi Mẹ. Qua Mẹ, con người đến với Thiên Chúa. Một phụ nữ tuyệt hảo trong số người nữ đã làm được như thế. Cách thế hiện diện của Mẹ là mô mẫu cho con cái Mẹ, đặc biệt cho các nữ tu. Mang phong cách của Mẹ, người nữ tu mang trong tâm một niềm vui, một sự nhạy bén, một tâm thức trao ban, cộng tác với Thiên Chúa, quan sát và đọc ra dấu chỉ thời đại mình đang sống.

Trong một góc nhỏ nào đó, người nữ tu Mân Côi mang hình hài Mẹ với linh đạo đậm chất Thánh mẫu. Mỗi nữ tu mang danh con cái Mẹ Maria luôn mang tâm thức đưa tràng chuỗi Mân Côi đến mọi nơi mình hiện diện. Sống, suy niệm mầu nhiệm Mân Côi để lời kinh Kính Mừng vang mãi trên môi giúp các nữ tu Mân Côi kết hợp với tâm tình của Mẹ sống trọn sự hiện diện với Chúa và đem ơn cứu độ đến cho mọi người.

Học nơi trường của Mẹ, người nữ tu hướng bản thân đến một sự tích cực với sự hiện diện cá vị tròn đầy và mới mẻ. Ý thức mỗi sự hiện diện là quà tặng được Thiên Chúa trao ban đòi hỏi mỗi người phải trân trọng và sống hết ý nghĩa sự hiện diện được lãnh nhận từ Đấng Toàn Năng. Và từ đó, mỗi thành viên góp phần để cộng đoàn thêm vững mạnh và làm cho Nước Trời hiển trị.

Trong khi triển khai đề tài, người viết cũng hướng về những người nữ như Đức Maria. Mẹ được cộng tác vào công trình cứu chuộc của Thiên Chúa thì với người nữ của thế kỷ, những người phụ nữ dưới ánh mắt đầy yêu thương của Thiên Chúa cũng luôn được mời gọi bước vào công cuộc cứu chuộc trong vai trò là một người nữ với một trái tim tình yêu của hiền mẫu hiện diện để trao ban và hy sinh. Theo Đức Thánh Cha Phanxicô, “tài năng phụ nữ được thể hiện qua các phong cách thánh thiện của nữ giới”, đó là điều thiết yếu để phản ảnh sự thánh thiện của Thiên Chúa trong thế giới này. Ngài còn nói: “Dù ở thời mà phụ nữ bị gạt ra bên lề thì Thần Khí cũng đã thúc đẩy các nữ thánh, sự tỏa rạng của họ tạo nên các đường lối thiêng liêng sinh động mới và cải cách quan trọng trong Giáo hội”. Ngay cả “các phụ nữ dù không nổi tiếng, các phụ nữ bị lãng quên, mà mỗi người theo cách của mình đã nâng đỡ và làm biến đổi gia đình, cộng đoàn qua chứng từ mạnh mẽ của họ”[114].

Bài học về sự hiện diện qua kinh nghiệm của cuộc gặp gỡ, chúng ta thấy rằng đôi khi chẳng cần nói gì nhưng sự hiện diện lại có thể nói lên tất cả. Sinh ra và lớn lên ở một nơi nào đó hay thời điểm nào đó có thể tôi không được chọn lựa, nhưng tôi có quyền quyết định cho mình hiện diện như thế nào cho có ý nghĩa. Sự hiện diện của con người ở nơi nào hay lúc nào trong sự quan phòng của Thiên Chúa, dù hạnh phúc hay đớn đau thì người ta không thể chạy trốn. Vì thế, cách tốt nhất để đối diện là đón nhận tất cả bằng niềm vui, cộng tác và làm cho nó có một ý nghĩa.

Luôn tìm ý nghĩa cho sự hiện diện của mình sẽ làm cuộc đời mình ý vị hơn, sâu sắc hơn chứ không chỉ là sự hời hợt bên ngoài. Đừng để sự hiện diện của chúng ta thành một bức tượng vô hồn. Lãng quên sự có mặt của người khác đó là một thiếu sót tuy nhỏ nhưng lại làm mất đi hương vị của cuộc đời. Sự hiện diện của bản thân cũng mở ra chân trời mới của sự đón nhận và trao ban, cuộc đời này sẽ không nhạt nhẽo và trôi đi cách tầm thường, trôi trong vô định nhưng là trong sự kiểm soát để luôn ý thức sự hiện của mình. Thánh Gioan Thánh Giá nhắc nhở: “Hãy cố gắng ở lại thường xuyên trong sự hiện diện của Thiên Chúa – dù là hiện diện thực tế, hay tưởng tượng, hay kết hợp trong mức độ mà các công việc của bạn cho phép”[115]. Đức Thánh Cha Phanxicô cũng hướng sự hiện diện của chúng ta đến “tạo một nơi chốn cởi mở và để phúc âm hóa, một nơi chốn cho sự hiện diện của Phục Sinh”.

Qua sự hiện diện, Mẹ đã viết lên trang sử cuộc đời bằng tình yêu, lòng nhiệt huyết, sự trải nghiệm của niềm vui và cả nước mắt, sự chia cắt… Còn mỗi người chúng ta thì sao, phải chăng sự hiện diện của tôi ở đây chỉ là vô tình, sự cố ý của một Thiên Chúa trên cao? Hy vọng mỗi người tìm thấy câu trả lời cho chính mình trong sự kết thân với Đấng Hằng Hữu.

THƯ MỤC THAM KHẢO

 

  1. Tài liệu nguồn
  1. Kinh thánh trọn bộ, Bản dịch: Nguyễn Thế Thuấn, NXB Tôn Giáo, Hà Nội 2013.
  2. Kinh thánh Cựu ước và Tân ước, Lời Chúa cho mọi người, Nhóm phiên dịch Các giờ kinh Phụng vụ, NXB Tôn Giáo, Hà Nội 2016.
  3. Bộ Giáo Lý Đức Tin, Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, bản dịch Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin HĐGMVN, NXB Tôn Giáo, Hà Nội 2012.

Các văn kiện CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II

  1. Hiến chế Tín lý về Giáo hội Lumen Gentium (21/11/1964).
  2. Hiến chế Mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay Gaudium Et Spes (07/12/1965).
  3. Sắc lệnh Canh tân Đời sống Tu trì Perfectea Caritatis (28/10/1965).

Văn kiện của các Đức Thánh Cha

PHAOLÔ VI

  1. Tông huấn Tôn kính Đức Trinh Nữ Maria (Marialis Cultus), 02/02/1974.

Gioan Phaolô II

  1. Tông huấn Hồng ân Cứu chuộc (Redemptionis Donum), 25/03/1984.
  2. Thông điệp Mẹ Đấng Thế Cứu (Redemptoris Mater), 25/03/1987.
  3. Tông thư Kinh Mân Côi (Rosarium Virginis Mariae), 16/10/2002.
  4. Những bài Giáo huấn về Đức Maria, Lưu hành nội bộ, 1999.

PHANXICÔ

  1. Tông huấn Niềm vui của Tin Mừng (Gaudium Evangelli), 24/11/2013.
  2. Tông huấn Niềm vui của tình yêu (Amoris Latetitia), 04/11/2016, bản dịch: Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, NXB Tôn Giáo, Tp. HCM 2016.
  3. Tông huấn Hãy vui mừng hân hoan (Gaudete et Exsultate), 19/03/2018, bản dịch: Lê Công Đức, NXB Tôn Giáo, Hà Nội 2018.
  4. Sứ vụ truyền giáo, dịch giả: Nữ tu Trần Thị Quỳnh Giao, NXB Tôn Giáo, Hà Nội 2017.

Dòng Chị Em Con Đức Mẹ Mân Côi

  1. Hiến Luật – Nội Quy.
  2. Gia Sản Dòng, quyển I, Xuất bản 2011.
  3. Nữ tu Mân Côi cầu nguyện, Lưu hành nội bộ.
  4. Sách tham khảo
  5. ALAIN MARCHADUOR, Tin Mừng Gioan, Chú giải mục vụ 1992.
  6. Albert Vanhoye, Hãy đón nhận Đức Kitô vị thượng tế của chúng ta, sưu tập những bài giảng chia sẻ cho giáo triều Rôma dịp tĩnh tâm Mùa Chay năm 2008.
  7. Anphong, Vinh Quang Mẹ Thiên Chúa, NXB Tôn Giáo, Hà Nội 2006.
  8. COLIN, Đức Maria với đời tu, Lưu hành nội bộ.
  9. Đinh Đức Đạo, Chứng nhân tình yêu, NXB Đồng Nai 2017.
  10. DƯƠNG VĂN HỮU, Những sưu tầm phong tục Kinh Thánh, NXB Tôn Giáo, Hà Nội 2007.
  11. ÉLOI LECLERC, Thầy dạy khát khao, chuyển ngữ: Lm. Minh Anh, NXB Phương Đông 2011.
  12. Felix Podimattam, Cộng đoàn đời sống thánh hiến, chuyển ngữ: Nguyễn Ngọc Kính, NXB Tôn Giáo, Hà Nội 2016.
  13. Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, chuyên đề Đời sống Thánh Hiến, Hiệp thông số 88.
  14. HOÀNG ĐỨC ÁNH, Thần học về Đức Maria, NXB Tôn Giáo, Hà Nội 2008.
  15. HOÀNG MINH TUẤN, Đọc Tin mừng theo Gioan, Lời thành xác phàm, tập I, NXB Tôn Giáo, Tp.HCM 2000.
  16. HOÀNG VĂN KHANH, Tin mừng Gioan, Lưu hành nội bộ.
  17. Học Viện Thánh Têrêsa Avila, Tìm hiểu văn kiện đời tu, từ Công Đồng Vaticanô II đến nay, Lưu hành nội bộ, Bùi Chu 2012.
  18. Hợp tuyển Thần học Đức Maria số 46, NXB Tôn Giáo, Hà Nội 2010.
  19. LÊ HOÀNG NAM, Một đời dâng hiến, Lưu hành nội bộ, 2015.
  20. Lê Tiến, Đức Maria trong đời thường, Học viện Đa minh 2002.
  21. LUIS GONZALES BALADO, Tâm hồn tràn ngập niềm vui, chuyển ngữ: Lm. Philipphê Trần Công Thuận, NXB Tôn Giáo, Hà Nội 2015.
  22. Mai Văn Hùng, Chân dung Đức Maria trong Tin Mừng, tủ sách Linh Đạo Thánh Mẫu, 1995.
  23. MARTINI, Người nữ mang ơn hòa giải, chuyển ngữ: Lm. Montfort Phạm Quốc Huyên, NXB Tôn Giáo, Hà Nội 2011.
  24. MARTINI, Đức Maria ở giữa dân người, chuyển ngữ: Lm. Montfort Phạm Quốc Huyên, NXB Tôn Giáo, Hà Nội 2013.
  25. MARTINI, Được Chúa kêu mời, chuyển ngữ: Lm. Montfort Phạm Quốc Huyên, NXB Phương Đông 2014.
  26. Martini, Tình yêu và gia đình, chuyển ngữ: Lm. Montfort Phạm Quốc Huyên, NXB Tôn Giáo, Hà Nội 2017.
  27. Michael D. Moga, Trong sự tìm kiếm tôn giáo đích thực, dịch giả: Lm. Lê Đình Trị NXB Phương Đông, Tp. HCM 2014.
  28. Ngô Ngọc Khanh, Tin Mừng theo thánh Gioan, Học viện Phanxicô 2017.
  29. Ngô Văn Vững, Phúc Âm của người nữ tỳ, NXB Tp. HCM 1996
  30. Ngô Văn Vững, Đức Maria Nữ Trinh kiệt tác của Thiên Chúa, NXB Tôn Giáo, Hà Nội 2016.
  31. Nguyễn Văn Trinh, Huấn quyền về Đức Maria, NXB Tôn Giáo, Hà Nội 2007.
  32. NGUYỄN HỮU THY, Đức Maria trong kinh nguyện Giáo hội, XB Trung tâm mục vụ Công giáo Việt Nam CHLB Đức, 01/01/2016.
  33. NHÂN TÀI, Chia sẻ với em kinh Mân Côi, Sài Gòn 2007.
  34. PHAN TẤN THÀNH, Magnificat, Học viện Đaminh 2010.
  35. RANIERO CANTALAMESSA, Đức Maria mẫu gương cho Giáo hội, Tủ sách Thánh Mẫu, Thư viện dòng Tên, không rõ năm xuất bản.
  36. TRẦN LONG CHU, Thánh hoá ngôn từ, Lưu hành nội bộ, 2008.
  37. TRẦN NGỌC ĐĂNG, Thắp sáng đời dâng hiến, Tủ sách Ra khơi, Bùi Chu 2015.
  38. Viện Thần học Tin Lành Việt Nam, Thánh Kinh Tân Từ Điển, ấn bản thứ 3, NXB Hồng Đức, Hà Nội 2014.
  39. VĨNH SƠN, Văn chương Gioan, Thư viện Dòng Tên, Sài Gòn 2004.
  40. VŨ PHAN LONG, Các bài Tin Mừng Gioan dùng trong phụng vụ, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội 2010.
  41. WILLIAM BARDAY, Tin Mừng theo thánh Gioan, NXB Tôn Giáo, Hà Nội 2008.

 

III. Trang Wed

  1. Khảo cổ học Kinh thánh Review, Tìm kiếm Cana Nơi Chúa Giêsu Nước thành Rượu, 2015, Tập 41, số 6, tr. 31-38, https://en.wikipedia.org/wiki/Cana/Khirbet Kana, Israel.
  2. Lê Minh Thông, “Dấu hiệu của nước trở thành rượu ngon trong lễ cưới của Cana“, http://leminhthongtinmunggioan.blogspot.com, truy cập ngày 14/09/2015.

                                                                                                                

MỤC LỤC

DẪN NHẬP 1

  1. Lý do chọn đề tài: 2
  2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu. 2
  3. Mục đích chọn đề tài 2
  4. Phương pháp nghiên cứu. 3

CHƯƠNG I

TIỆC CƯỚI CANA GA 1,1-12

  1. Cana- miền đất dấu lạ. 4

1.1. Vị trí địa lý. 4

1.2. Văn hóa. 5

1.3. Những dấu lạ thực hiện nơi Cana. 6

  1. Dấu lạ hóa nước thành rượu. 7

2.1. Nguyên nhân. 7

2.2. Cấu trúc dấu lạ đầu tiên. 8

2.3. Các biểu tượng trong dấu lạ đầu tiên. 8

  1. Ý nghĩa dấu lạ đầu tiên. 12

3.1. “Đây là khởi đầu của những dấu hiệu” (Ga 2,11a) 12

3.2. “Chúa Giêsu biểu lộ vinh quang của Người” (Ga 2,11b) 13

3.3. “Môn đệ của Người tin vào Người” (Ga 2,11c) 13

  1. Giới thiệu Thân Mẫu Đức Giêsu. 14

CHƯƠNG II

SỰ HIỆN DIỆN CỦA THÂN MẪU ĐỨC GIÊSU NƠI TIỆC CƯỚI CANA

  1. Trong tiệc cưới có Thân Mẫu Đức Giêsu. 16

1.1. Sự hiện diện của Mẹ mang sứ điệp yêu thương. 16

1.2. Đức Maria, người tỳ nữ phục vụ. 18

1.3. Sự cộng tác của Mẹ trong chương trình cứu chuộc nơi tiệc cưới Cana. 20

  1. Con đường Tin mừng của Đức Maria. 22

2.1. Tâm tư người mẹ trong tiệc cưới. 22

2.2. Mẹ truyền thông sứ điệp của Con Thiên Chúa. 24

2.3. Qua Mẹ Maria đến cùng Đức Giêsu – Per Mariam ad Jesum.. 25

  1. Biểu tượng Thân Mẫu Đức Giêsu từ tiệc cưới Cana đến Chân Thập Giá. 27

3.1. Đức Maria là Evà mới bên cạnh Chúa Giêsu là Ađam mới 28

3.2. Đức Maria, người môn đệ trung thành. 29

CHƯƠNG III

ĐỨC MARIA NÊU GƯƠNG VỀ CÁCH THẾ HIỆN DIỆN

CHO NGƯỜI NỮ TU HÔM NAY

  1. Bài học về cách thế hiện diện. 32

1.1. Người thánh hiến mang phong cách Đức Maria. 32

1.2. Đời tu mang tinh thần gia nhân trong tiệc cưới 35

1.3. Cùng Đức Maria người nữ tu đến với các gia đình. 38

  1. Hình mẫu Maria trong linh đạo Mân Côi 40

2.1. Hình mẫu lý tưởng của chị em Mân Côi là Đức Maria. 40

2.2. Đức Maria là Đấng Bảo Trợ Dòng: 41

2.3. Tôn sùng Đức Mẹ. 42

  1. Hướng tới sự hiện diện tích cực. 42

3.1. Cá nhân hiện diện tròn đầy. 43

3.2. Đời sống cộng đoàn – dấu chứng sự hiện diện nước Trời 45

KẾT LUẬN 49

THƯ MỤC THAM KHẢO.. 52

 

 

 

 

 

 

HỌC VIỆN THẦN HỌC TÊRÊSA DE AVILA BÙI CHU

—————***—————

 

 

 

SỰ HIỆN DIỆN CỦA THÂN MẪU ĐỨC GIÊSU

NƠI TIỆC CƯỚI CANA

 

 

 

M. Faustina Bùi Thị Len

Tiểu Luận Thần Học

 

 

 

 

 

Bùi Chu 2018

 

 

HỌC VIỆN THẦN HỌC TÊRÊSA DE AVILA BÙI CHU

—————***—————

 

 

SỰ HIỆN DIỆN CỦA ĐỨC THÂN MẪU ĐỨC GIÊSU

NƠI TIỆC CƯỚI CANA

 

 

Maria. Faustina Bùi Thị Len

Mã số: 00518

 

 

Tiểu Luận Thần Học

Giáo Sư Hướng Dẫn

Lm. Đaminh Trần Ngọc Đăng

 

        

Bùi Chu, 2018

 

 

 

 

 

 

HỌC VIỆN THẦN HỌC TÊRÊSA DE AVILA BÙI CHU

—————***—————

 

 

SỰ HIỆN DIỆN CỦA THÂN MẪU ĐỨC GIÊSU

NƠI TIỆC CƯỚI CANA

 

 

Maria. Faustina Bùi Thị Len

Mã số: 00518

 

 

Tiểu Luận Thần Học

Giáo Sư Hướng Dẫn

Lm. Đaminh Trần Ngọc Đăng

 

        

Bùi Chu 2018

 

 

 

 

 

HỌC VIỆN THẦN HỌC TÊRÊSA AVILA BÙI CHU

Nhận xét của Giáo sư hướng dẫn

…………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

                                                                                    Bùi Chu, ngày…… tháng……năm…….

                                                                                    Chữ ký của Giáo sư

 

 

Lm. Đaminh Trần Ngọc Đăng

LỜI TRI ÂN

“Chúa ấp ủ, Chúa lo dưỡng dục

Luôn gìn giữ chẳng khác nào con ngươi mắt Chúa” (Đnl 10,32)

Tình thương Chúa trải dài trong suốt cuộc đời con – cho con làm người, làm Con Thiên Chúa, đặc biệt, Ngài gọi con bước theo Ngài qua linh đạo hội Dòng mang tên Thân mẫu Đức Giêsu: Dòng Chị Em Con Đức Mẹ Mân Côi Bùi Chu. Con xin dâng lên Thiên Chúa lòng tri ân với tình yêu trong tình Cha, tình Đấng Lang Quân và tình bạn.

Con xin thành kính tri ân Đức Cha cố Giuse Hoàng Văn Tiệm, Đức Cha Tôma Vũ Đình Hiệu, Cha giám đốc Giuse Vũ Ngọc Tứ, Cha phó giám đốc Vinhsơn Mai Văn Bảo, quý Cha giáo, quý Chị giáo, quý Chị trong Ban điều hành đã hy sinh thời gian, công sức dành cho con những bài học quý giá và tạo cho con môi trường học tốt nhất, để con có hành trang ra đi theo sứ vụ của Giáo hội qua Hội Dòng.

Lời tri ân chân thành và sâu sắc, con xin được gửi tới Cha giáo Đaminh Trần Ngọc Đăng, phó giám đốc Đại chủng viện Đức Mẹ Vô Nhiễm Bùi Chu, người hướng dẫn và đồng hành với con trong suốt hành trình làm tiểu luận. Cha đã dành thời gian hướng dẫn con cách tận tâm, chia sẻ những kinh nghiệm thật quý báu, thiết thực giúp con biết mình và là động lực để con cố gắng hơn. Đồng thời, Cha cũng giúp con biết cách làm việc có phương pháp.

Con xin tri ân Mẹ Dòng – nôi ươm trồng và nuôi dưỡng ơn gọi của con. Nơi đây, con nhận được tình chị em, lời cầu nguyện, sự nâng đỡ, đồng hành của Chị Tổng, ban Cố vấn, quý Chị giáo và toàn thể chị em trong đại gia đình Hội Dòng Chị Em Con Đức Mẹ Mân Côi. Cách riêng, em cám ơn các chị em trong lớp Lòng Thương Xót, lớp Thần học niên khóa 2015 – 2018 với những nữ tu trẻ đầy nghị lực đã tiếp sức cho em trong suốt ba năm học. Đặc biệt, con cám ơn những người đã cầu nguyện và cùng con dâng lên Mẹ một chục kinh Mân Côi thứ hai mùa Sáng trong suốt thời gian con thực hiện bài tiểu luận.

Con xin ghi công ơn sinh thành, nuôi dưỡng, giáo dục con bằng lời dạy, hy sinh và cầu nguyện của bố mẹ. Mặc dù, bố đã về với Chúa nhưng tình thương, hình ảnh và tấm gương của bố vẫn luôn hiện diện bên con. Em cám ơn các anh, các chị, các em và toàn thể gia đình đã luôn ở bên, nâng đỡ và hy sinh để em vững bước trên đường thánh hiến.

Nguyện xin Thiên Chúa ban tràn đầy tình yêu và phúc lành trên các ngài qua lời chuyển cầu của Đức Trinh nữ Maria Mân Côi, thánh Faustina và các thánh.

Bài tiểu luận là tác phẩm đầu tay, mặc dù người viết đã cố gắng nhưng chắc chắn còn nhiều hạn chế, xin mọi người đón nhận với lòng quảng đại và niềm cảm thông.

Con xin chân thành tri ân.

                                                            Bùi Chu, ngày   tháng    năm

  1. Faustina Bùi Thị Len

DANH MỤC VIẾT TẮT

 

CÁC KÝ HIỆU KINH THÁNH

Cựu ước Tân ước
St:       Sáng thế Mt:   Matthêu
Xh:      Xuất hành Mc:   Maccô
Ds:      Dân số Lc:    Luca
Tl:       Thủ lãnh Ga:    Gioan
V:        Các Vua Cv:    Công vụ Tông đồ
Er:       Et-ra Rm: Rôma
Nkm:   Nơkhêmia Cr:    Côrintô
Tv:      Thánh vịnh Hr:    Hipri
Cn:      Châm ngôn Pr:     Phêrô
Dc:      Diễm ca Kh:   Khải huyền
Is:        Isaia
Gr:      Giêrêmia
Hs:      Hôsê
Kh:     Khải huyền

 

CÁC CHỮ VIẾT TẮT KHÁC

ĐCTP:           Đức Cha Tổ Phụ

GH:               Giáo Hoàng

GLHTCG:     Giáo lý Hội thánh Công giáo

HC:               Hiến chương

HĐGMVN:   Hội đồng Giám mục Việt Nam

Ibid:             Sách đã dẫn

Idem:             Cùng một tác giả

NQ:               Nội quy

QL:                Quy luật

TpHCM:       Thành phố Hồ Chí Minh

Sđd:               Sách đã dẫn

[1] X. Hoàng Minh Tuấn, Đọc Tin mừng theo Gioan, Lời thành xác phàm, tập I, NXB Tôn Giáo, Tp.HCM 2000, tr. 410.

[2] X. Viện Thần học Tin Lành Việt Nam, Thánh Kinh Tân Từ Điển, ấn bản thứ 3, NXB Hồng Đức, Hà Nội 2014, tr. 267.

[3] X. William Barday, Tin mừng theo thánh Gioan, NXB Tôn Giáo, Hà Nội 2008, tr. 61.

[4] Khảo cổ học Kinh thánh Review, Tìm kiếm Cana Nơi Chúa Giêsu Nước thành Rượu, 2015, Tập 41, số 6, tr. 31-38, https://en.wikipedia.org/wiki/Cana/Khirbet Kana, Israel.

[5] x. William Barday, Sđd, tr. 63.

[6] X. Dương Văn Hữu, Những sưu tầm phong tục Kinh Thánh, NXB Tôn Giáo, Hà Nội 2007, tr. 65.

[7]  Lược đồ như sau: (X. E Boismard, L’Evangili de Jean, Cerf, Pari 1977, p. 99)

Ngày 1: Ông Gioan Tẩy Giả giới thiệu (Ga 1,19-28)

Ngày 2: Ông Gioan công bố Đức Giêsu là Chiên Thiên Chúa (Ga 1,29-34)

Ngày 3: Hai môn đệ đầu tiên đến cùng Đức Giêsu (Ga 1,35-39)

Ngày 4: Ông Simon đến với Đức Giêsu (Ga 1,40-42)

Ngày 5: Ông Philipphê dẫn ông Nathanael đến với Đức Giêsu (Ga 1,43-50)

Ngày 6: Không trình thuật (tiếp tục hành trình tới Cana)

Ngày 7: Dấu lạ Cana (Ga 2,1-12)

[8] x. Hoàng Minh Tuấn, Sđd, tr. 356 và X. Ngô Ngọc Khanh, Tin Mừng theo thánh Gioan, Học viện Phanxicô 2017, tr. 136.

[9] X. Phan Tấn Thành, Magnificat, Học viện Đaminh 2010, tr. 80.

[10] X. Hoàng Văn Khanh, Tin mừng Gioan, Lưu hành nội bộ, tr. 159.

[11] X. Ngô Ngọc Khanh, Tin Mừng theo thánh Gioan, Học viện Phanxicô 2017, tr. 137.

[12] X. Phan Tấn Thành, Sđd, tr. 79.

[13] X. Ngô Ngọc Khanh, Sđd, tr. 150- 151.

[14] X. Vĩnh Sơn, Văn chương Gioan, Sài Gòn 2004, tr. 150.

[15] X. Hoàng Minh Tuấn, Sđd, tr. 376.

[16] X. Ngô Ngọc Khanh, Sđd, tr. 143- 144.

[17] Phan Tấn Thành, Sđd, tr. 84.

[18] Nguyễn Thế Thuấn, Kinh thánh trọn bộ, NXB Tôn Giáo, Hà Nội 2013.

[19] X. Vũ Phan Long, Các bài Tin Mừng Gioan dùng trong phụng vụ, NXB Văn hóa thông tin 2010, tr. 87- 88.

[20] Lê Minh Thông, “Dấu hiệu của nước trở thành rượu ngon trong lễ cưới của Cana“, http://leminhthongtinmunggioan.blogspot.com, truy cập ngày 14/09/2015.

[21] X. Vũ Phan Long, Sđd, tr. 88- 89.

[22] Lê Minh Thông, “Dấu hiệu của nước trở thành rượu ngon trong lễ cưới của Cana“, http://leminhthongtinmunggioan.blogspot.com, truy cập ngày 14/09/2015.

[22] X. Vũ Phan Long, Sđd, tr. 88- 89.

[23] X. Ngô Ngọc Khanh, Sđd, tr. 152- 153.

[24] X. Vũ Phan Long, Sđd, tr. 90.

[25] X. Ngô Ngọc Khanh, Sđd, tr. 153.

[26] X. ÉLOI LECLERC, Thầy dạy khát khao, chuyển ngữ: Lm. Minh Anh, NXB Phương Đông 2011, tr. 40.

[27] X. Carlo Maria Martini, Đức Maria ở giữa dân người, chuyển ngữ: Lm. Montfort Phạm Quốc Huyên, NXB Tôn Giáo, Hà Nội 2013, tr. 35.

[28] X. Ga 2,7-10.

[29] X. Albert Vanhoye, Hãy đón nhận Đức Kitô vị thượng tế của chúng ta, sưu tập những bài giảng chia sẻ cho giáo triều Rôma dịp tĩnh tâm Mùa Chay năm 2008, tr. 109.

[30] X. Ngô Văn Vững, Phúc Âm của người nữ tỳ, NXB Tp. HCM 1996, tr.18-19.

[31] X. Carlo Maria Martini, Đức Maria ở giữa dân người, NXB Tôn Giáo 2013, tr. 37.

[32] X. Ga 2,3.

[33] X. Ga 2,3-5.

[34] X. Phaolô VI, Tông huấn Tôn kính Đức Trinh Nữ Maria (Marialis Cultus), 02/ 02/ 1974, số 56.

[35] X. Đinh Đức Đạo, Chứng nhân tình yêu, NXB Đồng Nai 2017, tr. 127.

[36] X. Gioan Phaolô II, Những bài giáo huấn về Đức Maria, Lưu hành nội bộ, 1999, tr. 170.

[37] X. Éloi Leclerc, Sđd, tr. 40.

[38] X. 2.3.4. Biểu tượng “giờ” trong dấu lạ đầu tiên chương I, tr. 8.

[39] X. Mai Văn Hùng, Chân dung Đức Maria trong Tin Mừng, Linh đạo Thánh Mẫu 1995, tr. 54.

[40] X. Ga 2,5.

[41] X. Albert Vanhoye, Hãy đón nhận Đức Ki tô vị thượng tế của chúng ta, Lưu hành nội bộ, 2008.

[42] X. Éloi leclerc, Sđd, tr. 44.

[43] X. Mai Văn Hùng, Sđd, tr. 56.

[44] X. Mục 1.2. Văn hóa, chương I, tr. 3.

[45] Gioan Phaolô II, Tông thư Kinh Mân Côi (Rosarium Virginis Mariae), 16/10/2002, số 10.

[46] X. Raniero Cantalamessa, Đức Maria mẫu gương cho Giáo hội, Tủ sách Thánh Mẫu, tr. 136.

[47] X. Phaolô VI, Tông huấn Maria Tôn kính Đức Trinh Nữ (Marialis Cultus), 02/02/1974, số 57.

[48] x. Gioan Phaolô II, Tông thư Kinh Mân Côi (Rosarium Virginis Mariae), 16/10/2002, số 21.

[49] x. Mai Văn Hùng, Chân dung Đức Maria trong Tin Mừng, Linh Đạo Thánh Mẫu, 1995, tr. 54.

[50] x. Anphong, Vinh Quang Mẹ Thiên Chúa, NXB Tôn Giáo, Hà Nội 2006, tr. 132.

[51] Công Đồng Vaticanô II, Hiến chế Lumen Gentium, số 60.

[52] Gioan Phaolô II, Tông thư Kinh Mân Côi (Rosarium Virginis Mariae), 16/10/2002, số 14.

[53] Gioan Phaolô II, Thông điệp Mẹ Đấng Thế Cứu Thế (Redemptoris Mater), 25/03/1987, số 21.

[54] X. Ibid, số 22.

[55] X. Phanxicô, Sứ vụ truyền giáo, Dịch giả: Nữ tu Trần Thị Quỳnh Giao, NXB Tôn Giáo 2017, tr. 137.

[56] X. Bộ Giáo Lý Đức Tin, Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, bản dịch Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin HĐGMVN, NXB Tôn Giáo, Hà Nội 2012, số 2618.

[57] x. Vĩnh Sơn, Sđd, tr. 156.

[58] Ga 19,25-27.

[59] X. Hợp tuyển Thần học Đức Maria số 46, NXB Tôn Giáo, Hà Nội 2010, tr. 60-84.

[60] X. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Lumen Gentium số 58.

[61] X. Ibid, số 62.

[62] X. Luis Gonzales Balado, Mẹ Têrêsa Tâm hồn tràn ngập niềm vui, chuyển ngữ Lm: Philipphê Trần Công Thuận, NXB Tôn Giáo, Hà Nội 2015, tr. 122.

[63] X. Ibid, tr. 40.

[64] Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Mục Vụ Gaudium et Spes, số 1.

[65] X. Carlo Maria Martini, Đức Maria ở giữa dân người, chuyển ngữ: Lm. Montfort Phạm Quốc Huyên, NXB Tôn Giáo, Hà Nội 2013, tr. 39-40.

[66] X. Ga 2,4.

[67] Thực hành sùng kính Mẹ Maria, số 257.

[68] X. Vũ Phan Long, Sđd, tr. 98.

[69] X. Ga 2,7-9.

[70] X. Vũ Phan Long, Sđd, tr. 85.

[71] X. Hoàng Minh Tuấn, Sđd, tr. 390.

[72] Tv 139,17-18.

[73] X. Gioan Phaolô II, Tông huấn Hồng Ân Cứu Chuộc, số 13.

[74] X. Công đồng Vaticanô II, Sắc lệnh Canh Tân Đời Sống Tu Trì, số 14.

[75] Dòng Chị Em Con Đức Mẹ Mân Côi Bùi Chu, Hiến Luật – Nội quy, NQ 49.

[76] Ủy Ban Mục Vụ Gia Đình, Gia đình, cộng đoàn yêu thương, Ra khơi số 11, Lưu hành nội bộ, Bùi Chu 2014.

[77] X. Phanxicô, Tông huấn Niềm Vui Của Tình Yêu, bản dịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, NXB Tôn Giáo, Tp. HCM 2016, số 232.

[78] X. Carlo Maria Martini, Tình yêu và gia đình, chuyển ngữ: Lm. Montfort Phạm Quốc Huyên, NXB Tôn Giáo, Hà Nội 2017, tr. 98.

[79] X. Phanxicô, Tông huấn Niềm Vui Của Tình Yêu, bản dịch Hội Đồng Giám Mục, NXB Tôn Giáo, Tp.HCM 2016, số 209.

[80] Dòng Chị Em Con Đức Mẹ Mân Côi Bùi Chu, Hiến luật – Nội quy, QL 1.

[81] Dòng Chị Em Con Đức Mẹ Mân Côi – Chí Hòa, Kỷ yếu 70 năm thành lập Dòng…/ phần II: Ơn gọi và sứ mạng/ Linh đạo, tr. 35.

[82] Lc 1,38.

[83] Dòng Chị Em Con Đức Mẹ Mân Côi Bùi Chu, Hiến luật – Nội quy, HC 5.

[84] Ibid, HC 12.

[85] X. Idem, Kỷ yếu 70 năm thành lập Dòng…, tr. 58.

[86] X. Dòng Chị Em Con Đức Mẹ Mân Côi Bùi Chu, Hiến luật – Nội quy, HC 2.

[87] X. Ibid, HC 3.

[88] Dòng Chị Em Con Đức Mẹ Mân Côi Bùi Chu, Nữ Tu Mân Côi Cầu Nguyện, tr. 31-33.

[89] Ibid, Lời nguyện hiệp nhất, tr. 100-101.

[90] Dòng Chị Em Con Đức Mẹ Mân Côi Bùi Chu, Hiến luật – Nội quy, HC 33.

[91] Ibid, HC 28.

[92] Ibid, HC 9.

[93] X. Ibid, QL158.

[94] X. Ibid, QL 326; Ví dụ: M. Faustina Hoàng Hoa Hồng.

[95] X. Ibid, HC 42, QL 7, QL 38.

[96] Dòng Chị Em Con Đức Mẹ Mân Côi Chí Hòa, Gia Sản Dòng, quyển I, Xuất bản 2011, tr. 311.

[97] X. Ibid, QL 39.

[98] X. Ibid, QL 40.

[99] X. Ibid, NQ 97.

[100] X. Ibid, NQ 97.

[101] X. Ibid, HC 44.

[102] X. Ga 2,12.

[103] Trần Ngọc Đăng, Thắp sáng đời dâng hiến, Tủ sách Ra khơi, Bùi Chu 2015, tr.75.

[104] Luis Gonzales Balado, Sđd, tr. 270.

[105] Michael D. Moga, Trong sự tìm kiếm tôn giáo đích thực, dịch giả: Lm. Lê Đình Trị, NXB Phương Đông, Tp. HCM 2014, tr. 156.

[106] Dòng Chị Em Con Đức Mẹ Mân Côi Bùi Chu, Hiến luật – Nội quy, NQ 60.

[107] Học Viện Thánh Têrêsa Avila, Tìm hiểu văn kiện đời tu, từ Công Đồng Vaticanô II đến nay, Lưu hành nội bộ, Bùi Chu 2012, tr. 58.

[108] Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, chuyên đề Đời sống Thánh Hiến, Hiệp thông số 88, tr. 50.

[109] Dòng Chị Em Con Đức Mẹ Mân Côi Bùi Chu, Hiến luật – Nội quy, NQ 15.

[110] Michael D. Moga, người dịch: Lê Đình Trị, nguyên tác The Enduring Questions, Những câu hỏi khôn cùng, NXB Phương Đông, Tp. HCM 2014.

[111] Felix Podimattam, Cộng đoàn đời sống thánh hiến, chuyển ngữ: Nguyễn Ngọc Kính, NXB Tôn Giáo, Hà Nội, 2016, tr.112.

[112] Trần Thị Giồng, “Yếu tố con người trong đời thánh hiến, trong Hiệp Thông 88 (2015), tr. 66.

[113] Dòng Chị Em Con Đức Mẹ Mân Côi Bùi Chu, Hiến luật – Nội quy, HC 62.

[114] Phanxicô, Mười điều răn thánh thiện cho tất cả mọi người, dịch giả Nguyễn Tùng Lâm, https://phanxico.vn/2018/04/10/vui-mung-va-han-hoan-muoi-dieu-ran-thanh-thien-cho-tat-ca-moi-nguoi.

[115] Phanxicô, Tông huấn Hãy vui mừng hân hoan, bản dịch: Lê Công Đức, NXB Tôn Giáo, Hà Nội 2018, số 148.

Trả lời