TÔI KHÁT

TÔI KHÁT (Ga 19,28)

Đã từ rất lâu rồi, lời “Tôi khát” của Đấng bị treo giữa trời và đất cuốn hút người viết. Nhiều lần tự vấn lương tâm, tại sao có nhiều lời Kinh Thánh khác, mà lại chỉ có lời “Tôi khát” (Ga 19,28) lô

LỜI TỰA

i cuốn người viết đến vậy? Lời ngỏ này của Đấng Chịu Đóng Đinh có nghĩa gì? Thinh lặng tìm câu trả lời, dù người viết chưa hiểu hết tất cả sức cuốn hút này, nhưng đã có được một vài tia sáng. Chắc c——hắn, lời “Tôi khát” cuốn hút người viết – đó không phải là chuyện ngẫu nhiên, mà đàng sau đó có một sứ điệp thần linh nhắn gửi. Bởi vì mỗi lần Thiên Chúa ngỏ lời, Ngài muốn đưa ta vào sống trong một tương giao sâu đậm hơn và mãnh liệt hơn. Tiếp đến, nếu lời “Tôi khát” lôi cuốn người viết, thì chắc chắn đó cũng là lời mời gọi người viết phải tiếp tục đào sâu suy niệm hơn.

Với vài tia sáng này, khi phải tìm chủ đề cho luận văn ra trường, người viết liền nghĩ ngay đến việc chọn lời “Tôi khát” làm đề tài cho luận văn. Tuy nhiên, khi chọn lời “Tôi khát” làm đề tài, thì cùng lúc có nhiều khó khăn xảy ra. Trước hết, vì dù đã trải qua gần ba năm ở Học Viện, nhưng khả năng suy tư và viết văn vẫn còn nhiều giới hạn. Vậy mà chủ đề chỉ có vỏn vẹn hai chữ “Tôi khát”, làm sao có thể triển khai được? Hơn nữa, nếu chọn suy tư chủ đề “Tôi khát”, tôi sẽ triển khai như thế nào, bắt đầu ra sao? Những câu hỏi này khiến người viết đôi phần do dự, thậm chí đôi khi không dám nghĩ là có thể chọn chủ đề này.

Dù vậy, lời của Ngôi Lời trên Thập Giá cứ réo gọi: Tôi khát (Ga 19,28). Khi Ngài réo gọi, thì cùng lúc Ngài thêm nghị lực để người viết can đảm vượt qua do dự để bàn hỏi với người đồng hành. Rất may, người đồng hành chấp nhận và khích lệ để người viết chọn đề tài “Tôi khát” để triển khai cho luận văn. Với gợi ý của nhà đồng hành, người viết về đọc lại Tin mừng thứ tư và thấy rằng ẩn trong Tin Mừng này, còn một số nơi khác nữa đề cập tới chủ đề “Khát”. Và chắc chắn các nơi đề cập tới chủ đề “Khát” trong Tin mừng thứ tư sẽ có liên quan với nhau. Như thế, bắt đầu có những viên đá đầu tiên để đặt nền tảng cho việc suy tư về đề tài “Tôi khát”.

1. Mục đích nghiên cứu

Suy tư chủ đề này, người viết ước mong khám phá sâu hơn vai trò lời “Tôi khát” của Đức Giêsu trong toàn bộ Tin mừng thứ tư. Qua việc khám phá này, người viết ước mong sẽ hiểu được phần nào điều mà Thiên Chúa muốn nhắn gửi cho bản thân. Chúa khát khao điều gì nơi bản thân người viết? Khát khao của Ngài chất vấn đời tu của bản thân ra sao? Khát khao của Ngài liên quan gì tới Hội Dòng, nơi người viết đang sống? Chung quy lại, những khao khát đó có luôn đi trong đường lối Thánh ý của Chúa hay không? Ước mong như vậy khi khám phá khao khát của Chúa thì cùng lúc đáp lại tiếng khát cho bản thân và cho những người mà người viết sẽ gặp gỡ.

2. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn dùng phương pháp diễn dịch, quy nạp nhưng để cho lối hành văn uyển chuyển và mềm mại hơn, người viết sử dụng thêm phương pháp lịch sử kết hợp với những suy tư được rút tỉa từ những tinh hoa của Kinh Thánh và cuộc sống. Ngôn ngữ của sự chuyển hoá những khát vọng mà Tin mừng thứ tư dùng không phải là ngôn ngữ của những khái niệm, nhưng là của những hình ảnh và những biểu tượng. Nước, lửa, ánh sáng, gió, hơi thở, ngày, đêm, luôn là những hình ảnh của khát khao, biểu tượng của sự sống, khát khao sống dưới mọi hình thức. Những hình ảnh biểu tượng này thể hiện sức mạnh mà chúng ta mang trong mình nhưng đó cũng là sức mạnh mà chúng ta không làm chủ được. Một dòng nước thể hiện sự trong sạch dịu dàng và êm đềm nhưng khi gặp một vật cản thì dòng nước ấy có thể cuốn trôi tất cả.

3. Bố cục Luận văn

Một chứng từ lịch sử, một suy tư thần học và một trải nghiệm hiện sinh là để tìm lại con đường sự sống, qua đó, Thiên Chúa Hằng Sống mở ra cho con người và dẫn con người đến với sự sống thần linh. Bài viết sẽ được chia làm ba phần:

Chương I: Đôi nét về Tin Mừng Gioan.

Chương II: Tôi khát (x. Ga 19,28-30).

Chương III: Lòng khát khao Chúa trong đời tu trì.

 

NỘI DUNG

CHƯƠNG I

ĐÔI NÉT VỀ TIN MỪNG GIOAN

 

I. GIỚI THIỆU TIN MỪNG GIOAN

1. Người được linh hứng

Tác giả Tin mừng thứ tư được sánh ví với loài phượng hoàng, ngài đã bay bổng lên cao để chiêm ngắm mầu nhiệm Đức Kitô.

Theo truyền thống, người ta vẫn gán tác giả của Tin mừng thứ tư cho tông đồ Gioan là con ông Dêbêđê (Mc 1, 20) và mẹ là Salômê (Mt 27, 56; Mc 15, 40). Ông là một trong bốn môn đệ đầu tiên được Chúa Giêsu kêu gọi và chọn làm tông đồ, với tính nóng nảy: hai anh em được Chúa gọi là Boanege (Mc 3, 17).

Không phủ nhận truyền thống cho Gioan tông đồ là tác giả của Tin mừng thứ tư. Nhưng nếu nhìn trực tiếp vào bản văn của Tin mừng thứ tư thì tác giả đích thực là “người môn đệ được Chúa yêu”, được xuất hiện nhiền lần trong tác phẩm 13, 23; 19,25-27; 19,34-35; 21, 20.

Dù còn nhiều tranh cãi về tác giả Tin mừng thứ tư, nhưng điều chính yếu nhất về tác giả phải là người “mục kích”, đã từng sống bên cạnh Chúa, ăn uống với Chúa (x. Ga 21, 13). Ông đã chứng kiến tận mắt cuộc Khổ Nạn, Phục Sinh và lời chứng của ông có giá trị, có thẩm quyền. Hơn nữa, chính tác giả mong muốn ẩn mình dưới biệt danh “người môn đệ được Chúa yêu” tức là khao khát được xóa mình đi. Vậy tại sao ta lại cứ phải loay hoay tìm kiếm tên ông làm gì?[1]

2. Tác phẩm văn chương

Thời gian sáng tác sau biến cố đền thờ được phá hủy (70) rất có thể sáng tác năm 90-95 SCN. Tác phẩm được chia như sau:

– Lời tựa: 1,1-18.

– Sách về Dấu chỉ: 1,19-12,50.

– Sách về Giờ: 13,1-20,29.

– Kết thúc: 20,30-31.

– Phụ chương: 21

3. Giá trị ngôn từ

Với cấu trúc trên, Tin Mừng Gioan có nét gì độc đáo? Trước hết về ngôn từ, Tin mừng thứ tư sử dụng những từ ngữ rất đắt giá và có một sự chọn lựa kỹ lưỡng, chẳng hạn: yêu, ở lại, thấy, biết, tin, khát vv… Ngoài ra, Tin mừng thứ tư còn thích sử dụng những từ ngữ mang tính tương phản như:  ánh sáng >< bóng tối, yêu >< ghét, trên >< dưới…. Bên cạnh đó, ta cũng thấy nhiều ngôn từ mang ý nghĩa biểu tượng “nước, rượu, sự sống, lửa…”. Khi tác giả chú ý dùng những ngôn từ đắt giá ắp đầy ý nghĩa biểu tượng, mục đích chỉ muốn độc giả vượt qua bề mặt của chữ viết. Vì, chữ viết thì giết chết, Thần Khí mới làm cho sống. Nhờ Thần Khí hướng dẫn, độc giả tiến tới chiêm ngưỡng một Đức Kitô sống động đang háo hức dấn mình vào trong lịch sử nhân loại, và vào trong câu chuyện thánh thiêng của mỗi người.

Như đã nói, tác giả đã chú ý chọn lựa ngôn từ đắt đỏ nhưng rất thiết thực, đó cũng là để nhằm nổi bật tư tưởng thần học nhập thể. Ta không quá lời để nói rằng cả Tin mừng thứ tư dồn nghị lực để khắc họa một dung mạo Đức Kitô Nhập Thể sống động, Ngài đang háo hức Nhập Thể trong cuộc đời của từng người, trong cả lúc vui và dường như mãnh liệt hơn ngay cả trong bước đi tăm tối thất bại để mở ra một chân trời mới cho con người. Đối với Gioan, điều quan trọng là trình bày làm sao Đức Kitô có được một vị trí trong cuộc sống và khát vọng của con người.

Những gì đã tìm hiểu ở trên tưởng chừng như không đi sát đề tài, nhưng lại là nền tảng để hiểu sâu xa đề tài “Tôi khát” trong tương quan với toàn bộ nội dung Tin mừng thứ tư. Thực vậy, đỉnh cao của Tin Mừng Gioan được thấy ở đỉnh đồi Gôngôtha, là cuộc khổ nạn của Đấng chịu đóng đinh trên Thánh Giá. Để đi vào cuộc Khổ Nạn, đồng hành cùng Chúa Giêsu thiết tưởng, ta nên xin Thánh Thần Tình Yêu soi sáng mở trí để ta hiểu được ý nghĩa thẳm sâu lời “Tôi khát” của Ngôi Lời đã trở thành xác phàm. Đó là lời ở giây phút hấp hối, Lời ắp đầy tình yêu không chỉ cho một người, một gia đình, hay một nhóm người… nhưng đã vang dội mãi mãi cho đến hôm nay với những con người khát khao đi tìm hạnh phúc đích thực, mà hạnh phúc đích thực đó chỉ có nơi Thiên Chúa.

II. VÀI ĐOẠN VĂN TIÊU BIỂU VỀ “KHÁT” TRONG TIN MỪNG GIOAN

Thực vậy, khi vâng lệnh Chúa Cha nhập thể xuống trần gian, Chúa Giêsu là nhà truyền giáo đầu tiên đi loan tin mừng cứu độ. Khi từ trời xuống đất Ngài đã bắc cây cầu vô tiền khoáng hậu nối những khoảng cách mênh mông. Khoảng cách giữa Thiên Chúa với con người là muôn trùng xa cách, con người chẳng bao giờ ước mơ vượt qua được. Khoảng cách giữa thánh thiện và tội lỗi. Khoảng cách giữa Đấng Tác Tạo và tạo vật. Cây cầu này không phàm nhân nào xây dựng nổi nếu không phải là chính Đấng làm nên khác biệt. Đó là cây cầu định mệnh thay đổi số phận những người ở bên kia bờ ngăn cách[2]. Đó là cây cầu đem lại sức sống cho những vùng đất chết, phá vỡ hàng rào ngăn cách về: tôn giáo, phái tính và nơi thờ phượng được biểu lộ qua chính cuộc gặp gỡ đối thoại của Chúa Giêsu với người phụ nữ Samaria bên bờ giếng Giacóp.

1. Đức Giêsu và người phụ nữ Samaria Ga 4, 1-42

Đặt trong khung cảnh tổng thể, trình thuật Ga 4, 1-42 thuộc về sách Dấu chỉ (1,19 – 12,50). Khung cảnh của trình thuật là cuộc gặp gỡ giữa Đức Giêsu và chị phụ nữ diễn ra lúc trời nắng nóng chói chang. Tác giả dồn tất cả nghị lực để khắc họa một dung mạo Đức Kitô Nhập Thể dấn mình cho tận cùng mọi cảnh vật sống của con người, một Thiên Chúa cả trời đất chứa không nổi, lại tự nguyện trở nên nghèo, khát, mệt mỏi “chị cho tôi xin chút nước uống” (4, 7)[3]. Chi tiết Đức Giêsu xin nước uống là mặc khải rất tuyệt vời về một Thiên Chúa trọn vẹn làm người: Chúa mệt, Chúa mỏi vì trời nóng bức và đi đường xa. Ngài ngồi lại bên bờ giếng, mệt lả. Theo mạch văn, nước hằng ngày quan trọng, vì chính Đức Giêsu đã mệt mỏi vì đi đường và Người xin nước uống. Như thế, nhu cầu về nước hằng ngày diễn tả thân phận làm người của Đức Giêsu. Người là con người như mọi người, sống trọn vẹn thân phận làm người. Người cũng đói, khát, vất vả thi hành sứ vụ chu toàn thánh ý Thiên Chúa như bao người khác.

Quan sát bản văn ta tạm chia thành hai phần: Giới thiệu trình thuật (c. 1-6) và gặp gỡ đến biến đổi (c. 7-42): Chúa Giêsu đối thoại với người phụ nữ Samaria (c. 7-26); đối thoại với các môn đệ (c. 27-38); Chúa Giêsu Đấng cứu độ trần gian (c. 39-42).

  1. Giới thiệu trình thuật (c. 1-6)

Đến với lời mở đoạn, đã cho thấy những bí ẩn sâu xa chứa đầy mặc khải của Thiên Chúa. Tác giả đã nêu khái quát đầy đủ những địa danh, tên gọi để nội dung được nổi bật. Người viết nhìn thấy bản đồ địa lý Palestin được chia làm ba miền: Đức Giêsu phải rời bỏ Giuđê (Miền Nam) trở về Galilê (Miền Bắc) vì thế Ngài phải qua Samaria (Miền Trung)…

Bản văn cho ta cơ hội được tìm hiểu lịch sử của dân Do Thái và dân Samaria dưới lăng kính của lịch sử dân Chúa. Trước hết, chúng ta hãy dựng lại khung cảnh của sự việc, Chúa Giêsu không muốn bị lôi cuốn vào cuộc tranh chấp về phép rửa, nên quyết định tạm thời rời Giuđê để chuyển sang hoạt động tại xứ Galilê. Giữa dân Do Thái và Samaria đã có mối bất hòa kéo dài từ nhiều thế kỷ.

Với phần mở đầu của bản văn, người viết được chiêm ngắm những con người làm nên lịch sử đã để lại những dấu ấn của thời gian, dấu ấn của lịch sử. Đó chính là các tổ phụ đang hiện dần lên bên bờ giếng Giacóp, những con người sống động lành nghề du mục cùng con cái và đàn súc vật nay đây mai đó, và để lại gia sản quý là giếng nước nơi của sự sống; đó cũng là khung cảnh thích hợp cho những cuộc gặp gỡ tình tứ (x. St 24), những cuộc gặp gỡ do Kinh Thánh kể lại giữa Giacóp và Rakhen (St 29), giữa Môsê và các con gái của Rơuel- Yethro (Xh 2, 15-22).

Nhìn vào khung cảnh của bản văn, người viết như được sống lại kinh nghiệm cách đây gần 20 thế kỷ. Các môn đệ cùng với Thầy mình là Đức Giêsu đi con đường phải băng qua Samaria trong khung cảnh của thời gian giờ ngọ, bước chân mệt mỏi rã rời, xem ra đã tàn hơi kiệt sức, lúc này Ngài là một con người thật cũng bị mệt mỏi kiệt quệ giữa trưa hè nắng cháy của sa mạc oi bức. Tất cả những điều đó không phải là sự kiện bất ngờ, hay đã chuẩn bị, nhưng đều mang một ý nghĩa thần học sâu sắc và nằm trong chương trình nhiệm mầu của Thiên Chúa.

  1. Gặp gỡ đến biến đổi (c. 7-38)

* Đức Giêsu đối thoại với người phụ nữ Samaria bên bờ giếng Gia-cóp (4,7-26).

Cuộc gặp gỡ này diễn tả sự tìm kiếm của hai con người. Đức Giêsu là người xin nước uống (c.7) vì Người vất vả đi đường lúc giữa trưa. Còn người phụ nữ Samaria là người thường xuyên vất vả tới giếng múc nước nên cũng xin nước uống (c.15). Việc “khát nước” và “lấy nước” bên bờ giếng mở đầu và kết thúc bằng hai lời xin: Người có “nước hằng sống” thì xin “nước hằng ngày”. Còn người có gầu để múc nước giếng, nghĩa là có “nước hằng ngày” lại xin “nước sự sống”.

Câu chuyện nói đến hai thứ nước và hai thứ khát. Đức Giêsu nói về sự khác biệt giữa “nước giếng” và “nước sự sống”. “Nước hằng ngày” là thứ nước uống vào sẽ lại khát, còn “nước sự sống” là thứ nước uống vào sẽ không bao giờ khát nữa. “Khát nước” theo nghĩa đen là khát nước uống hằng ngày. “Khát” theo nghĩa biểu tượng là “khát nước sự sống”, nghĩa là khao khát sự thật, khát được biết ai là đấng cứu độ trần gian, khát tâm linh, khát sự thờ phượng đích thực, khao khát gặp được ai đó đáng tin và để tin. Như thế, nghĩa biểu tượng của “nước” và “khát nước” nhằm trình bày mặc khải. Tuy nhiên trong dòng văn, nghĩa đen của việc “khát nước” cũng mặc khải về căn tính của Đức Giêsu[4].

Trở lại bản văn, ta thấy người phụ nữ vừa đến nơi, liền xảy ra cuộc đối thoại. Chúa Giêsu đã lên tiếng chủ động để nói chuyện với người phụ nữ: Lời nói đầu tiên Ngài phát ra là lời khát “chị cho tôi xin chút nước uống”. Đó là cơn khát thể lý của Đức Giêsu, để đi tới cơn khát thiêng liêng của người phụ nữ, cơn khát duy nhất có thể giải tỏa tình trạng khao khát của thân phận con người. Nhu cầu hoặc các nhu cầu tự nhiên luôn luôn có đó để ta phải tìm thỏa mãn, nhưng không đến độ bóp nghẹt ước vọng sâu xa của con người[5]. Nơi đây một Thiên Chúa đã cúi xuống để xin nước một con người. Lời xin nước của Chúa Giêsu hàm chứa ý nghĩa: Ngài khát, sau những giờ đi bộ dưới cái nóng oi ả, nhưng Ngài khao khát cứu các linh hồn đang cần một thứ nước thiêng liêng cao trọng hơn. Đi từ nước uống tự nhiên, Đức Giêsu hướng chị phụ nữ đến nước ban sự sống. Từ một người xin nước uống để thỏa mãn cơn đói khát, Đức Giêsu tỏ cho biết Ngài là Đấng ban Nước Hằng Sống.

Đức Giêsu là cây cầu, là cầu nối giữa người Do Thái và Samaria. Ngài đã phá đổ bức tường rào ngăn cách giữa hai dân tộc, Ngài đã vượt qua biên giới của sự chia rẽ hận thù, để đến nối kết yêu thương khi Ngài xin nước người phụ nữ Samaria. Một Thiên Chúa rất người đến xin nước một người phụ nữ. Xem ra, Ngài rất liều lĩnh. Liều lĩnh bởi lẽ thời bấy giờ người phụ nữ không được coi trọng và mấu chốt là bức tường ngăn cách người Samaria và Do Thái không được giao tiếp với nhau.

Chúa Giêsu công khai thách thức và phá vỡ hai ranh giới trong ngữ cảnh này là: ranh giới giữa những “người được tuyển chọn” là dân Do Thái và những “người bị từ khước” là những người ngoại giáo như dân Samaria, giữa người nam và người nữ. Chúa Giêsu khởi xướng tiếp cận với một người phụ nữ Samari, xin chị đáp lại nhu cầu của Ngài (c. 7). Để rồi chính Ngài ban cho chị ân huệ của Thiên Chúa (c. 10) và mạc khải cho chị căn tính của Ngài (c. 26). Ngài đối xử với người phụ nữ Samaria- sau đó là đến dân làng Samaria- với tư cách là một con người đúng nghĩa, một người xứng đáng lãnh nhận ân huệ của Chúa, chứ không phải là kẻ thù bị khinh thị bởi những ngăn cách về lịch sử tôn giáo và con người.

Chúa Giêsu đến phá vỡ ranh giới được xây dựng trên nền tảng giới tính. Vì thế, Ngài đối xử với phụ nữ như là một con người đích thực khi Ngài đối thoại trực tiếp với người phụ nữ Samaria bên bờ giếng Giacóp. Ở đây, đừng bao giờ đánh giá người phụ nữ Samaria là một người tội lỗi. Trái lại, chị được khắc họa như là một mẫu gương về một đức tin đang trưởng thành. Xuyên suốt đoạn văn, độc giả nhìn thấy đức tin của người phụ nữ lớn lên khi chị đi đến nhận biết khả năng Chúa Giêsu có thể là Đấng Mêsia (4, 29). Thậm chí quan trọng hơn đó là chị được khắc họa như là một chứng tá (4, 39). Chính chị đã kêu gọi dân làng của mình đến gặp Chúa Giêsu[6]. Câu chuyện về người phụ nữ Samaria kêu gọi người kitô hữu nhìn lại những ranh giới đối với việc làm chứng và hoạt động của bản thân trong đời sống thường ngày, đã sinh hoa trái trong việc lãnh nhận ân huệ Thiên Chúa?

Chúa Giêsu tỏ cho người phụ nữ biết lý do chính đáng của việc Người làm, không phải Ngài cần nước uống, mà chính Ngài mới là người cho nước ban sự sống. Dù làm gì, ở đâu, Đức Giêsu vẫn không bao giờ đánh mất tầm nhìn sứ vụ Chúa Cha ủy thác cho Ngài khi được sai đến trần gian, điều hằng khát khao trong cuộc đời của Đức Giêsu đó là để đời mình hướng về, tháp nhập vào suối nguồn Chúa Cha[7].

Lời đối thoại của người phụ nữ, đưa Đức Giêsu về lại bao gốc gác nhân loại của Ngài. Nó cắm chân Ngài trong một dân tộc, một nền văn hóa, một lịch sử với tất cả những gì biểu thị cách riêng biệt, giới hạn và cố chấp “Ông, ông là người Do Thái” (c. 9). Ở đây, chúng ta dừng lại ngay tâm điểm của cuộc gặp gỡ giữa Con Người với con người cùng mọi xung đột của nó, nhưng Đức Giêsu không đóng kín trong những phạm trù này. Không từ chối một điều gì thuộc bản sắc Do Thái của mình. Lập tức, Ngài đặt mình cao hơn, ở một lãnh địa khác, lãnh địa sứ vụ. “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban và ai là người đang nói với chị cho tôi chút nước uống” (c. 10) thì hẳn chị đã xin và người ấy đã ban cho chị nước hằng sống”. Lời của Chúa Giêsu cứ dần dần dẫn người phụ nữ vào trong một thế giới linh thiêng (c. 10), nó cho thấy có mối tương quan chặt chẽ giữa ân huệ Thiên Chúa ban và Đấng đang nói, Người có thể ban nước hằng sống. Người đưa vào trong cuộc đối thoại chiều kích mầu nhiệm: từ giếng nước hữu hình mà Người xin nước uống, Chúa Giêsu đặt để lợi ích trên chính mình, ân huệ Thiên Chúa ban có khả năng trao ban sự sống[8].

Đức Giêsu là con người như bao người khác và nhân tính của Đức Giêsu được tỏ lộ qua kiểu hành văn tương phản, hài hước và nghịch lý: Người tự cho mình có “nước sự sống”, uống vào thì đời đời sẽ không khát, nhưng người ấy lại đang khát và phải xin người phụ nữ Samaria nước để uống: “Chị cho Tôi chút nước uống” (4,7). Khi tác giả cho thấy thấp thoáng từ “nước hằng sống”, Ngài muốn khơi dậy trong người phụ nữ niềm khát khao sâu xa sự sống bình an vĩnh cửu, một niềm khát khao ở ngay trong lòng người. Càng đi sâu vào cuộc đối thoại, người phụ nữ này càng muốn thể hiện con người mình từ gốc gác cho đến sự khát khao trong sâu thẳm con người mình, chị muốn nói chị cũng là hậu duệ của dòng dõi tổ phụ Giacóp (c. 12). Tại trung tâm của câu chuyện, có một chân lý cơ bản là: trong con người luôn luôn khao khát điều mà chỉ một mình Chúa Giêsu mới có thể thỏa mãn được. Chúng ta chẳng bao giờ thoát khỏi nỗi niềm khao khát về cõi vĩnh hằng mà Thiên Chúa đã đặt vào linh hồn con người, một sự khao khát mà chỉ có Chúa Giêsu Kitô mới làm thỏa mãn.

Đức Giêsu và người phụ nữ đối thoại, càng đối thoại thì người phụ nữ càng thấy mình khát. Phải chăng người phụ nữ này đang bị đè nặng bởi chị là một con người có nhiều chồng, cuộc sống tội lỗi nên phải đi lấy nước một mình vào giờ trưa vắng vẻ để đáp ứng cơn khát cuộc sống thường ngày. Phải chăng chị khát tình yêu Thiên Chúa, Đấng ban cho chị sự sống, Đấng làm cho chị thấy cuộc đời trở nên ý nghĩa. Càng đối thoại thì chị càng thấy ngỡ ngàng về con người đã xin mình nước. Người xin nước chị, hóa ra là Đấng cứu độ nhân loại, Đấng Mêsia. Ấy vậy mà Đấng ấy lại có những bước chân rời rã, có những hơi thở cạn kiệt, mệt mỏi của một con người đến để xin nước. Ngài là Đấng đầy quyền uy, vinh quang lại trở thành một Thiên Chúa ăn xin con người: một bài học khiêm tốn, hướng dẫn con người sống thật với chính nơi tâm điểm sâu thẳm nhất của con người vì chính Ngài là Đường, là sự Thật, và là Sự Sống (Ga 14, 6).

Tác giả đang hé lộ cho ta thấy điều hằng khao khát trong cuộc đời của Đức Giêsu nơi cuộc gặp gỡ bất ngờ này là: chu toàn nhiệm vụ Chúa Cha giao phó (4,34), để đời mình hướng về, tháp nhập vào suối nguồn Chúa Cha. Đức Giêsu được sai đến, ánh nhìn Ngài dành cho chị chỉ là một với cái nhìn xót thương của Chúa Cha, chỉ vì chị mà Đức Giêsu chọn con đường này, chính chị là người mà Ngài mong mỏi bên giếng Giacóp. Chính vì chị mà Ngài đã đến trần gian, để gặp, để mặc khải cho chị sự dịu hiền của Chúa Cha, để nói với chị rằng: chị cũng được Chúa Cha thương mến, từ đời đời; đồng thời, để đánh thức nơi chị niềm khát khao sự sống mà bí mật của nó ở nơi Ngài. Không chút khiển tránh, nhưng từ chốn sâu thẳm nhất của thất vọng và khát khao của chị, Ngài chỉ muốn nối kết con người ấy với cõi tâm cuộc sống của chị, để nói với chị rằng “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa”[9].

* Đức Giêsu đối thoại với các môn đệ (c. 27-38).

Khi các môn đệ trở về thấy Chúa Giêsu đối thoại với người phụ nữ thì có vẻ e dè, về thành kiến với người phụ nữ. Nhưng Đức Giêsu cho các ông biết việc đối thoại với người phụ nữ là việc Ngài đang thi hành ý muốn của Chúa Cha. Một Thiên Chúa đến cứu con người khỏi những ruồng rẫy, bỏ rơi, bị người ta coi khinh, miệt thị, của chính những người sống xung quanh. Còn Đức Giêsu thì không, Ngài đến để đón những người như vậy, Ngài đến để nâng đỡ, giải thoát, ủi an những người bị bỏ rơi. Ngài đến để trao ban ơn cứu độ và giải thoát những ai có mảnh đời bị khinh miệt, “Ta đến để kêu gọi người tội lỗi ăn năn hối cải”.

Đức Giêsu gặp gỡ khiến người phụ nữ mở lòng ra đối thoại, thành ra cuộc đời chị được biến đổi, chị ấy đã gặp gỡ được một con người sống động, Đấng cuốn hút đời mình, giải thoát đời mình, cho đời mình có ý nghĩa. Cuộc gặp gỡ này là ân huệ Chúa ban cho chị, và nơi chị đã trở thành một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời. Từ một người tội lỗi, nhưng chị đã trở thành người loan báo Tin Mừng. Sau khi gặp gỡ Đấng là Suối nguồn ban sự sống, thì chị không ích kỷ giữ lại niềm vui cho riêng mình. Nhưng trái lại, chị đã vội vàng đi loan báo cho dân làng và người khác đến với Chúa.

Hơn thế nữa, con người là một hữu thể xác hồn, luôn khao khát sự sống. Thánh Irênê nói: “Vinh quang Thiên Chúa, chính là con người sống”. Cuộc gặp gỡ đã mời gọi chúng ta coi trọng cả hai thứ nước: nước hằng ngày và nước hằng sống. Đừng chỉ chú trọng tìm “nước sự sống” mà xem nhẹ công việc làm ăn sinh sống để “có nước hằng ngày”. Để có “nước sự sống” con người cần không ngừng khao khát đối thoại với Đức Giêsu và hiểu đúng lời mặc khải của Người. Từ đó, “đến với”, “tin” và “ở lại” với Người. Đó là cách con người đón nhận “nước sự sống”, thứ nước sẽ làm thoả mãn mọi khát vọng của con người bởi con người là một tổ hợp xác hồn.

* Chúa Giêsu Đấng cứu độ trần gian (c. 39-42)

Phải chăng tôi chưa gặp Chúa. Nếu đã gặp Chúa, tôi sẽ như người phụ nữ Samaria, bỏ vò nước bên bờ giếng để trở về loan báo Tin Mừng cho mọi người. Tất cả những gì tự hào của chị giờ đây nằm trong chiếc vò trống rỗng vô ích và chị chẳng thèm đoái hoài đến nữa. Cả ngôi đền thờ cao vút. Cả giếng nước tổ phụ. Cả nhan sắc xinh đẹp. Gặp được Chúa rồi chỉ còn mình Chúa là ý nghĩa. Ý nghĩa lớn lao quá, phấn khởi quá. Và niềm vui vỡ òa trong tâm hồn khiến chị không còn kìm nén được. Nhưng phải mở ra chia sẻ: Ga 4, 28-30.39[10]. Đó chính là niềm vui, niềm khao khát truyền giáo không phải chỉ dành cho chị phụ nữ Samaria mà giành cho chính mỗi người chúng ta phải có trách nhiệm loan tin vui và dẫn đến sự hiểu biết “Đức Giêsu là ai?” thì ngay lúc này chúng ta đang sống Lời Chúa và đang làm sống lại cuộc gặp gỡ giữa Đức Giêsu và người phụ nữ Samaria trong thế giới hôm nay.

Samaria gần mà xa. Vì người Do Thái coi người Samaira như thù địch (gần nhà xa ngõ). Nhưng Chúa Giêsu đã đến. Và tại Samaria Chúa tìm người bị bỏ rơi nhất, xa xôi nhất, tội lỗi nhất, là người phụ nữ đi múc nước tại giếng Giacóp. Như người phụ nữ Samaria, người đọc cảm nghiệm sự đụng chạm của Chúa Giêsu vào trong lịch sử của người phụ nữ (4,1-18). Người đọc nghe được  tiếng “Ta là” trong câu 26 như được nói trực tiếp với mình. Dẫn đến, kết thúc bản văn, người đọc đã ở lại với Chúa Giêsu như người dân Samari ở lại với Ngài[11]. Chúa Giêsu chính là cây cầu, Chúa nối qua bao khoảng cách, giữa hai không gian thù địch, giữa hai thời gian dài dằng dẵng, giữa hai tôn giáo kình địch, giữa hai giới tính cấm kỵ gặp nhau. Nhịp cầu đã nối. Và nối dài thêm những nhịp cầu nhỏ chia ra muôn nhánh. Khi người phụ nữ tình nguyện trở thành nhịp cầu. Và khi toàn thể dân làng cũng trở thành những nhịp cầu mới nối đến những vùng miền sâu xa.

Đức Giêsu mời gọi chúng ta bước theo Ngài trở nên giống Ngài là thi hành Thánh ý Cha, đi đến gặp gỡ, chia sẻ, nâng đỡ những con người nghèo khổ, bị bỏ rơi, những người già cả, ốm đau, tội lỗi, bị người ta ruồng rẫy. Bài học nơi Ngài thôi thúc chúng ta đến với con người đau khổ để nâng đỡ, sẻ chia, trao ban tình yêu Chúa cho những người chúng ta gặp gỡ và tiếp xúc, một khát khao truyền giáo cho chính môi trường sống của bản thân. Nhờ đó họ nhận ra Chúa. Đó là sự khát khao muốn cho Nước Chúa được trị đến.

Chúng ta vừa cùng chiêm ngưỡng hành động táo bạo can đảm phá vỡ hàng rào ngăn cách giữa người với người của Đức Giêsu. Qua hành động của Ngài diễn tả khối lòng, Ngài khao khát đến gặp gỡ, mà cuộc gặp gỡ đích thực trong cả những tăm tối khắc khoải, cả những vết thương rướm máu của con người. Gặp gỡ không chỉ dừng lại ở bề mặt mà đi mãi vào tận thâm sâu của tâm hồn, bởi Chúa Giêsu biết tất cả cuộc đời của chị phụ nữ Samaria: cái biết thấu hiểu; cái biết giải thoát. Vẫn cái biết của Đấng khao khát đến gặp con người, khao khát giải thoát. Qua cuộc gặp gỡ Ngài đã làm vọt chảy lên trong lòng người thiếu phụ một dòng nước trinh nguyên khiến chị được no thỏa đem niềm vui đến cho dân làng mình. Cuộc gặp gỡ này, chương 4 cho ta thấy đàng sau những chữ viết đó chính là cơn khát của một Thiên Chúa làm người, chỉ một mình Đức Giêsu đem đến cho con người sự no thỏa[12]. Bước ra từ cuộc gặp gỡ này con người được biến đổi trở thành một người loan tin vui đến cho những người mình gặp gỡ.

2. Nguồn mạch tuôn chảy nước hằng sống Ga 7, 37-39

Cuộc gặp gỡ của Chúa Giêsu với người phụ nữ Samaria đã làm nổi bật lên Đức Giêsu là một con người thật cũng đói, khát, mệt mỏi. Ngài là Thiên Chúa, Ngài đã đến để xin chút nước nơi con người để đáp ứng cơn khát thể lý và mặc khải cho con người biết từ một người xin nước trở thành người ban nước hằng sống. Còn đoạn văn Ga 7,37-38 làm nổi bật Đức Giêsu chính là nguồn ban nước hằng sống đối với ai tin nhận Ngài thì sông nước hằng sống sẽ chảy từ trong lòng mình hay nói cách khác Chúa Giêsu chính là nguồn nước hằng sống: “Từ lòng Người, sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống”

Bản văn nằm trong khung cảnh cuộc hành hương của Đức Giêsu về Giêrusalem dịp Lễ Lều. Tác giả đang thuật lại sự việc đã xảy ra trong quá khứ nay được tái hiện cho mỗi độc giả khi đọc đoạn văn diễn ra trong khung cảnh thánh thiêng của Đền Thờ vào dịp tuần Lễ Lều, thính giả tham dự là đoàn dân hành hương, bài giảng là lời hứa ban nước hằng sống.

Trong truyền thống Do Thái có ba cuộc hành hương lớn lên Đền Thờ tham dự và là tuần lễ lớn kéo dài trong nhiều ngày. Tác giả không đề cập đến lễ Vượt Qua hay lễ Ngũ Tuần nhưng nhấn mạnh vào ngày lễ bế mạc tuần Lễ Lều.

Vậy Lễ Lều có ý nghĩa gì? Lễ Lều là lễ vui tươi nhất, là một lễ nông nghiệp để cám ơn Đấng Tạo hóa về mọi sự, vì Ngài đã nhân ái ban hoa mầu đất đai thêm một lẫn nữa. Người ta cũng xin Thiên Chúa chúc lành cho năm đang đến và ban mưa để làm cho đất đai phì nhiêu trở lại. Vào dịp Lễ Lều, người ta có thói quen nhắc lại chuyến đi dài qua sa mạc sau khi được giải thoát khỏi ách nô lệ Ai Cập (x. Lv 13,40.43), được cử hành vào thời gian giữa cuối tháng 9 và tháng 10, khi các công việc đồng áng đã chấm dứt và đã đưa các thứ thu hoạch vào kho[13].

Lễ Lều cũng trở thành cuộc cử hành việc Thiên Chúa và con người chung sống với nhau. Lễ Lều kéo dài 7 ngày, sau này người ta thêm vào một ngày thứ tám. Chính trong bối cảnh tưng bừng của ngày lễ nhằm cảm tạ Chúa một cách sống động về việc Ngài đã ban cho họ đủ nước, mà cũng là một hành động cầu mưa, để kỷ niệm việc nước đã từ tảng đá phun ra cho họ lúc đi qua đồng vắng. Đến ngày bế mạc Lễ Lều thì càng huyên náo sôi nổi hơn và rất là long trọng vì họ đi vòng quanh bàn thờ đến bảy lần, để sống lại giây phút mà các tổ phụ đi bảy lần chung quanh các tường thành Giêrikhô, các vách tường đổ xuống và chiếm được thành trì.

Dường như Đức Giêsu có ý nói rằng: “các ngươi đang cảm tạ và tôn vinh Chúa vì nước làm thỏa mãn cơn khát của thân xác. Nếu các ngươi muốn được thứ nước làm thỏa mãn cơn khát của linh hồn, hãy đến với tôi”. Chúa đã lợi dụng giây phút sôi nổi ấy để khiến mọi người quay trở lại với ý nghĩ về lòng khao khát Thiên Chúa và những điều vĩnh cửu. Đức Giêsu đã long trọng tự giới thiệu mình như là nguồn ban mặc khải và Thần Khí[14].

Khi Đức Giêsu chờ đến ngày bế mạc để tuyên bố sứ điệp. Một sứ điệp nói lên căn tính sâu xa của con người là con người có khả năng nhận biết Thiên Chúa, bởi trong con người có lý trí, ý chí và tự do. Một lời mời gọi đến từ tự do của con người muốn đáp trả lời mời gọi của Thiên Chúa là “hãy đến” chứ không phải là lời “phải đến”. Bình thường Ngài vẫn giảng dạy trong Đền Thờ, nhưng hôm nay Ngài giảng với một tâm hồn đầy phấn khởi vui tươi với sự đông đủ của tất cả mọi tầng lớp, Ngài lớn tiếng nói rằng: “Ai khát, hãy đến với tôi, ai tin vào tôi, hãy đến mà uống”. Đức Giêsu đã lợi dụng giây phút long trọng của buổi lễ để hướng mọi người trở lại với ý nghĩa về lòng khao khát Thiên Chúa sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống nơi những tâm hồn tin nhận Ngài.

Lời mời gọi của Đức Giêsu là lời đến từ tình yêu. Lời tình yêu thì hoàn toàn tự do đến từ con tim. Lời của Ngài không phải chỉ dành cho những người tham dự tuần lễ Lều, không phải chỉ cho dân tộc Do Thái. Lời đó được vang lên trong vũ trụ nói với toàn thể nhân loại và cho chính tôi trong giây phút này: Sự sống, trước tiên là khao khát, một niềm khao khát cần phải dốc toàn lực “Ai khát, hãy đến với tôi, ai tin vào tôi, hãy đến mà uống”. Nếu chúng ta chỉ hiểu theo nghĩa mặt chữ thì chỉ thỏa mãn được cơn khát thân xác. Ngài muốn hướng chúng ta đến suối nguồn yêu thương nơi là khởi đầu và cùng đích, nơi đó chúng ta sẽ được no thỏa. Lời Ngài chứa đầy những mặc khải khi Ngài mời gọi chúng ta hãy bám vào Kinh Thánh bởi Kinh Thánh là lời của Thiên Chúa nói với con người qua những mặc khải, qua các tổ phụ, các ngôn sứ đã được các tác giả phàm nhân ghi lại dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần. Như Kinh Thánh đã nói: “Từ lòng Người sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống”. Ngài mặc khải cho toàn dân biết rằng, Ngài chính là nguồn nước hằng sống. Vậy nước hằng sống là nguồn nước sẽ được tuôn chảy từ lòng Người. Chúa Giêsu chính là sông nước hằng sống sẽ chảy ra từ lòng người.

Theo Thánh Kinh: Nước ban sự sống được hiểu là Đức Kitô đến mang lại cho loài người nước ban sự sống mà các sứ ngôn xưa đã hứa. Người là Đá tảng mà khi đập vào (x. Ga 19, 34) sẽ tuôn trào từ cạnh sườn giòng nước đủ sức giải khát toàn dân đang lữ hành về Đất hứa đích thực (1 Cr 10, 4; Ga 7, 38; x. Xh 17, 1-7). Người cũng là Đền thờ (x. Ga 2, 19), nơi sẽ xuất phát giòng sông vun tưới và làm sống động Giêrusalem mới (Ga 7, 37; Kh 22,1.17), một địa đàng mới. Nước đây không phải là gì khác ngoài Thánh Thần, quyền năng ban sự sống của Thiên Chúa tạo hóa (Ga 7,39). Tuy nhiên trong Ga 4, 10-14, hình như nước lại tượng trưng giáo thuyết ban sự sống do Đức Kitô Khôn Ngoan mang đến (x.4,25). Dù sao, khi mọi sự được hoàn tất, nước hằng sống sẽ là biểu tượng hạnh phúc vô cùng của các kẻ được tuyển chọn, được Chiên Con dẫn đến những đồng cỏ xum xuê (Kh 7,17; 21,6; x. Is 25,8; 49,10)[15].

Chúa Giêsu muốn mặc khải cho tất cả những người đang hiện diện trong ngày lễ về nguồn gốc của ân huệ Người sẽ ban tùy thuộc nguồn gốc của chính Người. Những lời Chúa Giêsu nói trong ngày bế mạc tuần Lễ Lều được lặp lại tư tưởng trong đoạn (4, 13.14) bởi sự lặp đi lặp lại này nói lên sự chiêm niệm suy ngắm của tinh thần trước mầu nhiệm sâu xa của Thiên Chúa. Ngài muốn hướng dẫn chúng ta từ cơn khát thể lý nơi mỗi người ai cũng có, nhưng cơn khát sự sống đời đời quan trọng cần được khai thông và tái khám phá, con đường vẫn còn đó nhưng đã bị cỏ mọc, bị tội lỗi chen lấn làm con người quên đi mục đích sống của mình trong cuộc đời này, cứ chạy theo những cơn khát hiện tại, tự cho mình là quan trọng, là làm được tất cả, quên đi mục đích tối hậu của mình và không còn thời gian để tích lũy cho mình những kho tàng thiêng liêng là quy hướng về Thiên Chúa.

Đức Giêsu đang đứng trước nhiệm vụ nặng nề là giải thích cho các thính giả biết Thiên Chúa muốn ban cho họ điều gì nhờ trung gian của Người và cũng là nhiệm vụ phải đưa họ đến nhận lãnh ân ban đó. Người thấy trước mắt một thế giới sống dửng dưng và thiếu hiểu biết, đầy những hoài nghi và thành kiến, với đủ loại hy vọng và tự hào hão huyền. Bằng những dấu lạ, Người tự liên kết với những hoàn cảnh quẫn bách của nhân loại, để đưa người ta đến chỗ hiểu rằng Người mới là Đấng ban cho người ta những ân huệ quan trọng đích thực; Người mới là suối tuôn trào sự sống[16].

Một câu hỏi đặt ra cho bản thân: Đứng trước một thế giới tục hóa dửng dưng với Thiên Chúa, với tôn giáo, người môn đệ của Đức Giêsu có đang giới thiệu được chăng cho thế giới rằng Người chính là Đấng duy nhất có thể dẫn đưa con người đi đúng hướng? Đứng trước một thế giới đang tìm tiêu thụ và không bao giờ thỏa mãn, người môn đệ có giới thiệu được rằng chính Đức Giêsu mới là Đấng làm thỏa mãn những khao khát đang dày vò trái tim con người hôm nay chăng?[17]

Cơn khát của lời mời gọi nên hoàn thiện mỗi ngày được nối kết chặt chẽ với lời mời gọi truyền giáo. Chính Chúa Giêsu đã dạy và hướng dẫn chúng ta sống đúng với con người mình, phải có sự can đảm, mạnh dạn, phải trau dồi cho mình những đức tính căn bản để vượt lên những khó khăn, không sợ sệt trước đám đông, biết lên tiếng khi nào. Chúa Giêsu không lên tiếng nói vào những ngày trong tuần Lễ Lều, nhưng Ngài chờ đến ngày bế mạc, vì những ngày đó giờ của Ngài chưa đến. Để làm được như vậy, cần có sự tươi mới trong tâm hồn, đón nhận Chúa mỗi ngày, luôn hướng về Ngài là nguồn mạch và cùng đích, là sự thiện tối hậu, và chờ dịp để thực hiện bước nhảy khi đã có đủ lượng và chất- đó là một con người có Chúa thực sự khi dám nói với Ngài, và nói về Ngài cho những người mà mình gặp gỡ.

Theo mạch văn, Ngài tỏ mình như Nguồn Sống Sung Mãn: không phải một sự sống cầm lại cho mình bằng cách giữ cho mình khỏi chết; nhưng ngược lại, một sự sống tự khẳng định, mạnh mẽ và vĩ đại trong chính mình như một quà tặng, để mở tâm hồn những người nghe trước quà tặng sự sống thần linh. Đức Giêsu không nói với những người hiểu biết, những đầu óc thuần khiết, nhưng nói với những người sống, những người ước ao sống một sự sống sung mãn hơn, cao cả hơn. Chính ở chiều sâu này mà Đức Giêsu liên kết với con người. Lời của Ngài luôn mời mọi người “hãy đến”. Ngài ban lại cho nó ý nghĩa và tương lai. Vậy thì chẳng có gì là nhân tạo khi lời mời gọi của Đức Giêsu chạm tới khát vọng sống trong tâm hồn mỗi người. Lời mời gọi này ngỏ lời với điều căn bản nhất, tận căn nhất nơi con người. Đó là giờ thực hiện lời hứa ban nước hằng sống: “Ai khát, hãy đến với tôi, ai tin vào tôi, hãy đến và uống! Như Thánh Kinh đã nói: từ lòng Ngài, sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống” (Ga 7, 37-38). Lời mời gọi này khơi dậy khát vọng sâu xa của con người, mang cho nó chiều kích vĩnh cửu của sự sống: dẫn con người vào trong sự viên mãn bằng cách đưa nó đến sự viên mãn của Thiên Chúa[18].

 

CHƯƠNG II

TÔI KHÁT (Ga 19,28)

Con người là những hữu thể nhân linh có khả năng tuyên lên những lời nói. Những lời nói của chúng ta có thể đem lại sức sống mà cũng có thể đưa đến sự chết, có thể sáng tạo mà cũng có thể hủy diệt. Ở đỉnh cao của tấn kịch này, có những lời sau cùng của Đức Giêsu trên Thánh Giá. Những lời nói ấy quí báu bởi vì chính ở đó có nền tảng để chúng ta xác tín rằng những lời nói của con người cũng có thể đạt tới được vận mệnh ấy. Ngôn từ của chúng ta có thể là vụng về và chỉ tiếp cận được mầu nhiệm một cách loáng thoáng thôi, nhưng không phải vì thế mà lại là vô ích[19].

Trước những lời cuối cùng của Đức Giêsu trên thập giá, đặc biệt là lời “Tôi khát” (Ga 19,28), chắc chắn rằng ta không thể nào tìm hiểu hết tất cả mọi ý nghĩa. Bởi vì Lời Chúa mãi là suối nguồn không bao giờ cạn vơi. Tuy nhiên, ta được mời gọi réo rắt tới chiêm ngưỡng Đấng Chịu Đóng Đinh Hằng Sống, lắng nghe tiếng vang vọng: “Tôi khát”. Và như thế, khi chiêm suy lời “Tôi khát” ở  Ga 19,28, ấy là cơ hội để ta được ngụp lặn trong đại dương tình thương của Đấng bị treo giữa đất và trời[20].

Câu hỏi đặt ra ở đây là: khi Đức Giêsu nói “Tôi khát”, vậy Ngài “khát” cái gì? Hay nói cách khác, đâu là ý nghĩa đích thực về cái khát khao Đức Giêsu muốn nói tới? Phải chăng Người khát nước hoàn toàn về thể lý? Để có thể nắm bắt được ý nghĩa sâu xa của lời bày tỏ “khát” của Đức Giêsu, chúng ta cần lưu ý, trước hết, tới hoàn cảnh bấy giờ của Người- nguyên nhân Đức Giêsu lại khát? Sau nữa, lời “Tôi khát” đến và ở lại: tức là Người muốn bày tỏ cùng ai cơn khát của Người và ai trong số tất cả những người đứng dưới chân Thánh giá đáp trả cơn khát của Chúa?

I. CƠN KHÁT CỦA ĐỨC GIÊSU

Để hiểu được cơn khát của Chúa Giêsu, thiết tưởng nên đặt vào trong khung cảnh của biến cố về Giờ. Cụ thể, Ga 19,28 đặt đoạn văn trong mạch văn cuốn sách về Giờ (13,1-20,29). Nếu như trong cuốn sách về dấu chỉ ta thấy thính giả là những người rất phong phú và đông đảo thì đến cuốn sách về Giờ, nhóm thính giả còn lại rất ít chỉ còn lại những kẻ thuộc về Đức Giêsu. Như vậy trong mối tương giao mật thiết gần gũi, chắc hẳn Chúa Giêsu sẽ vén mở những sứ điệp quan trọng cho “những kẻ thuộc về Ngài” (13,1). Hơn nữa, dường như cuốn sách về Giờ hàm chứa những sứ điệp rất quan trọng nên tác giả đã phải dành cả một phần tác phẩm của mình (13,1-20,29) để đề cập về vỏn vẹn không đầy một tuần cuối cùng của cuộc đời Chúa Giêsu. Trong khi đó cả phần một cuốn sách về dấu chỉ (1,19-12,50) mô tả thời gian gần ba năm rao giảng công khai. Điều đó chúng ta thấy phần hai cuốn sách về Giờ có vai trò rất quan trọng.[21]

Trước hết, khi Đức Giêsu thốt lên “Tôi khát” (Ga 19,28), ấy là diễn tả cái khát thể lý. Và như thế hàm ẩn ý nghĩa thần học sâu xa.

1. Cơn khát thể lý

Khi thốt lên lời “Tôi Khát” (Ga 19,28), ấy là vì Đức Giêsu đã trải qua một hành trình dài vất vả cam go. Cụ thể, trong Vườn Cây Dầu, Đức Giêsu tiến ra và hỏi các kẻ đến bắt Người: “Các anh tìm ai?”. Câu trả lời của Ngài chất chứa đầy quyền năng khiến họ lùi lại và ngã xuống đất (18,4-9). Khi bị thượng tế Khanna tra hỏi về giáo huấn, Ngài chẳng chút sợ hãi và đã thẳng thắn từ chối trả lời (18,19-21). Khi bị vả mặt, Ngài cũng đòi kẻ xúc phạm Ngài phải nói rõ tại sao (18,23). Đức Giêsu bị đem tới dinh tổng trần Philatô lúc trời đã sáng. Philatô là người xét xử Đức Giêsu, nhưng có vẻ ông là người bị động. Ông bị giằng co giữa một bên là Đức Giêsu đang ở trong dinh, bên kia là đám đông và các nhà lãnh đạo Do Thái đang ở ngoài dinh. Philatô không biết phải theo ai, chọn ai trong tình cảnh căng thẳng này. Vì thế ông đã đi ra, đi vào cả thảy bảy lần (18,18.29.33.38; 19, 1.4.9.13)[22]. Chính Đức Giêsu vác Thánh Giá trên vai đến tận đồi Gôlgôtha. Trên Thánh Giá, Ngài đã ý thức rõ ràng trao phó Mẹ mình cho môn đệ Chúa yêu 19,25-27. Ngay sau đó là đến bản văn “Tôi khát” khi Đức Giêsu trên Thập Giá.

Một hành trình dài vất vả, bị xét xử, bị nhạo báng chê bai. Tất cả hành trình gian khó đó tưởng chừng không thể vượt qua với sức bình thường của con người, nhưng Đức Giêsu vẫn tiếp bước. Và như thế,  khi bị treo trên Thánh Giá, bấy giờ nước trong thân thể của Đức Giêsu hầu như đã toát hết ra ngoài với mồ hôi suốt đoạn đường Núi Sọ[23]. Rõ ràng về thể lý, Đức Giêsu đã thực sự cảm thấy cơn khát trong từng thớ thịt giọt máu của mình. Như thể cảm nhận điều này, Henry Pourrat chia sẻ:

Thập giá vừa được dựng lên. Vào chính giờ thứ sáu, mặt trời chính ngọ mà lại là giờ tối tăm. Ngay chính giữa ban ngày, mặt trời đã ngần ngại chiếu tỏa ánh sáng xuống. Cũng như khi gần xảy ra một đại biến nào, thì một đảo lộn trong tất cả vũ trụ đã xảy đến bất thần. Tiếng kèn loan báo Chiên Vượt Qua được hiến tế. Gioan Tẩy Giả đã nói: “Đây Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian” (Ga 1,29). Vậy thập giá được dựng lên trong không trung, giữa những tiếng la to cười nhạo, của những người Pharisêu, của bọn thuộc hạ, của những người đứng đằng xa xa trên các đồi và ngó nhìn. Đức Maria, các phụ nữ đạo đức, những bạn hữu của Đức Giêsu thì thương khóc và đưa những bàn tay run rẩy về hướng thập giá. Rồi trong sự tối tăm đang dâng lên, một sự thinh lặng hoàn toàn ập xuống. Giờ đây, thập giá của Đức Kitô đã được dựng lên giữa lòng thế giới. Hai cánh tay Người dang ra về hướng Bắc và hướng Nam, cũng như chân Người hướng về lòng đất và đầu Người hướng về trời xanh. Thập giá là dấu chỉ sự chia rẽ và sự mâu thuẫn, nhưng cũng là dấu hiệu tính đại đồng, chiếu tỏa trên toàn vũ trụ. Đức Kitô quay lưng lại với thành thánh của người Do Thái: Người nhìn về hướng Rôma, về châu Âu, về phương Tây.[24]

Nếu mở rộng tầm nhìn sang Nhất Lãm, ta càng thấy rõ hơn cơn khát thể lý của Đức Giêsu. Cụ thể trong Vườn Cây Dầu, Đức Giêsu đã xin với Chúa Cha cất chén đắng xa khỏi Người, nhưng đừng theo ý Con một theo Ý Cha. Lúc ấy, tin mừng Luca thuật lại: Đức Giêsu đã run rẩy trước giờ sắp đến, đến nỗi đổ mồ hôi máu (x. Lc 22,44). Như thể Người đã bằng lòng nhận lấy sự yếu đuối của nhân loại đến mức mà lòng can đảm có thể dẫn Người tới, một khi Người đã nhận lấy thân phận của một người phàm. Chúa Giêsu toát mồ hôi máu sẽ dẫn đến Ngài khát. Nhưng Ngài đã vượt qua cơn khát thể lý để dần tiến đến cuộc hành trình đỉnh cao của cuộc đời Ngài trên đồi Golgotha. Sau khi bị bắt và bị chất vấn, bị điệu đi nơi này, nơi kia, một sự vận chuyển liên tục trước khi bị kết án đóng đinh vào Thập giá. Tất cả những khó khăn mệt nhọc đó, sự tra hỏi, sự đối đáp đã làm Ngài mệt nhọc, và như thế thì làm sao mà không khát được.

Một câu hỏi được đặt ra: tại sao Ngài biết tất cả những gì sẽ xảy ra, nhưng Ngài vẫn toát mồ hôi máu. Điều này muốn nói lên nhân tính của Người, là một con người thật.

Theo nghiên cứu: Mồ hôi máu (en: Hematidrosis) hay chứng đổ mồ hôi máu là tình trạng rất hiếm gặp xảy ra ở con người. Nhưng khi họ trong trạng thái tâm thần, cảm xúc và căng thẳng thể lý một cách cực độ, ví dụ như đang đối diện với cái chết, làm họ tiết ra mồ hôi máu. Một số tài liệu tham khảo về lịch sử đã mô tả hiện tượng này, đáng chú ý là những tài liệu của Leonardo da Vinci đã mô tả về: một người lính trước khi ra trận hay một người đàn ông bất ngờ chịu một án tử hình đã đổ mồ hôi máu, cũng như theo chi tiết trong Kinh Thánh thì Chúa Giêsu đã đổ mồ hôi máu khi Ngài đang cầu nguyện trong vườn Getsemani (Luca 22:44).[25]

Rõ ràng, cơn khát thể lý của Đức Giêsu là điều đương nhiên. Còn, theo tin mừng Mátthêu, sau một đêm bị hành hình ở dinh Thượng Tế Caipha (Mt 26,67-68), rồi một sáng bị quằn quại ở dinh Tổng Trấn Philatô (Mt 27,27-31), Đức Giêsu bị người ta xét xử, bị tra tấn đánh đòn đến độ tan nát xác thân, Người còn phải vác thập giá vô cùng nặng nhọc, đến độ phải có người vác đỡ (Mt 27,32). Rõ ràng, một cuộc hành trình vác thập giá giữa buổi trưa nắng nóng, và phải vác trên một đoạn đường không thẳng mà là dốc, lên cho tới đỉnh Đồi Canvê. Và như thế thì làm sao mà không khát được!

Tóm lại, khi Đức Giêsu thốt lời “Tôi khát” (Ga 19,28), thì rõ ràng trước hết đó là diễn tả một cơn khát xảy ra trong máu thịt Ngài. Bởi lẽ, Ngài đã và đang trải qua cuộc vượt qua ắp đầy vất vả, đớn đau. Và chính Tin Mừng Nhất Lãm cũng khẳng định về tình trạng đau thương tột cùng của cuộc Thương Khó mà Đấng Chịu Đóng Đinh đang trải qua. Riêng với Tin mừng thứ tư, khi xác định cơn khát thể lý (Ga 19,28) của Đức Giêsu trên Thập Giá, điều này có ý nghĩa thần học vô cùng quan trọng. Bởi vì trong lời “Tôi khát” (Ga 19,28), tác giả đang muốn nhấn mạnh huyền nhiệm Nhập Thể của Đức Giêsu Kitô. Chính Ngài là Ngôi Lời hằng sống, vượt không gian và thời gian. Ngài đã tự nguyện “trở thành xác phàm và cắm lều giữa chúng ta” (x. Ga 1,14). Nghĩa là, chính Đức Giêsu đã đảm nhận tất cả mọi điều kiện sống của con người, ngoại trừ tội lỗi. Tất cả những gì là mong manh nhất, khốn cùng nhất, Đức Giêsu đã mang vào trong thân thể mình. Đặc biệt là cơn khát, lúc mà sự sống đang dần cạn vơi, lúc mà sự sống mong manh nhất, run rẩy nhất, lúc ấy Đức Giêsu sống cho đến tận cùng huyền nhiệm một Thiên Chúa trọn vẹn làm người. Và như vậy, khi Đức Giêsu khát trong máu thịt mình, ấy cũng là tình yêu dấn mình cho đến tận cùng. Một tình yêu muốn sẻ chia tất cả nỗi khốn cùng của con người. Và chính tình yêu này có sức cứu rỗi.

2. Cơn khát chu toàn thánh ý Thiên Chúa

Như vừa nói ở trên, Đức Giêsu thực sự khát, một cơn khát thể lý. Nhưng, cơn khát này còn được hòa quyện vào một cơn khát lớn lao hơn, cháy bỏng hơn nữa. Đó là cơn khát thực thi Thánh Ý Chúa Cha.

Bởi lẽ, cả cuộc đời Đức Giêsu là được cuốn hút về đỉnh đồi Gôlgôtha, mục đích là để chu toàn Thánh Ý. Chính Ngài đã bộc bạch cùng các môn đệ: “Lương thực của Thầy là làm theo Ý Đấng đã sai Thầy” (x. Ga 4,34). Bây giờ, trên Thập Giá, chắc chắn Đức Giêsu đang sống giây phút đỉnh điểm của đời Ngài. Thế nên, vượt qua cơn khát thể lý, Đức Giêsu đang khát khao thực hiện một điều lớn lao kỳ vĩ.

Chỉ trong cái nhìn này thì ta mới hiểu được tại sao khi bị đối xử tàn nhẫn trong cuộc thương khó, Đức Giêsu vẫn chịu đựng không một lời kêu trách mệt mỏi, không giận dữ. Ngay cả khi bản án được thi hành là đóng đinh Ngài vào Thập Giá, mặc dù bị đánh đòn bị lôi đi, vác thập giá trên hành trình Golgôtha dù mệt mỏi kiệt quệ, bước đi lảo đảo, chệnh choạng, kéo lê tấm thân khòm lưng dưới sức nặng của cậy thập giá, Ngài vẫn cam chịu. Dù đường gập ghềnh sỏi đá khiến Ngài ngã quỵ xuống đất nhiều lần, Chúa Giêsu vẫn im lặng nghe tiếng lòng thổn thức của con người. Với sức con người rất cần một thứ năng lực nào đó để tăng sức bởi sự ròng rã của hành trình là liên tục, nhưng Ngài vẫn vượt qua cơn khát thể lý, cơn khát của thân xác, chịu đựng, vâng phục để  chu toàn thánh ý Chúa Cha để chết thay cho nhân loại.

Chỉ vì khát tìm kiếm Thánh Ý Chúa Cha, nên khi quân lính truy tìm, Đức Giêsu không hề chạy trốn, dù Ngài có thể. Nhưng Ngài tự nộp mình cho họ, Ngài tiến ra gặp họ (Ga 18,1-12). Và như thế Chúa Giêsu đang đi vào dự án tình yêu của Chúa Cha. Chúa Giêsu luôn ý thức và chủ động điều đang xảy ra cho Ngài. Vượt lên trên bề mặt chống đối, hận thù, thậm chí cả người môn đệ phản bội. Chúa Giêsu vẫn tiến ra đảm nhận thánh ý của Thiên Chúa đó là hiến trao trọn vẹn con người Ngài cho các môn đệ và cho nhân thế. Chúa Giêsu đã vượt qua sự khát khao, sự thanh minh của ngôn từ để một mình chịu đựng tất cả không để ai vì mình mà bị liên luỵ. Bình thường Ngài sẽ được các môn đệ bảo vệ và xảy ra tranh chấp đánh nhau máu đổ. Nhưng Ngài đã hoàn toàn hứng chịu tất cả để những ai đi theo Ngài sẽ được bình an cho đến khi Ngài hoàn tất giờ mà Chúa Cha trao ban. Chính Chúa Giêsu quan tâm đến việc cứu những người theo Ngài, che chở họ. Ngài là mục tử bảo vệ đàn chiên của mình, Ngài không muốn họ đau khổ khi Ngài chịu khổ đau.[26]

Như thế, khi Đức Giêsu thốt lời “Tôi khát” (Ga 19,28), Ngài đang bộc bạch khối lòng cháy bỏng muốn thực thi Thánh Ý Chúa Cha. Đó là lúc Ngài đang uống chén mà Chúa Cha trao phó (x. Ga 18,11). Và như thế vượt lên trên bề mặt ảm đạm ắp đầy tử thần của bầu khí Gôlgôtha, ta thấy một tình yêu mãnh liệt trào tràn đang cuộn chảy trong khối lòng của Đức Giêsu dành cho Chúa Cha.

Những lời nói sau cùng của Đức Giêsu có thể đi vào trong tâm trí, vào trong trái tim chúng ta để nâng đỡ chúng ta trong bất cứ cảnh huống nào mà chúng ta phải đương đầu, thất bại, bỏ rơi, thinh lặng và chết chóc. Sự tra tấn đau đớn hãi hùng ghê rợn đã khiến Đức Giêsu nói lời “Tôi khát”. Ngài khát thực sự, một Thiên Chúa đầy quyền năng, Ngài phán một lời là liền có. Ấy vậy mà, giờ đây một Thiên Chúa đã trở nên người phàm giống chúng ta, cũng kêu, cũng nói lên lời sau cùng của những người hấp hối trước khi chết là “Tôi khát”. Tất cả những cái biết đều ở trong Ngài, Đấng khi bước vào biến cố về Giờ đã xác quyết “Ta Là – Egô eimi” (x. Ga 18,4.6), vậy mà giờ đây oà vỡ, một con người thực sự đã lên tiếng “Tôi khát”.

Lời 19,28 với động từ “hoàn tất” xuất hiện lần đầu tiên trong Tin mừng thứ tư còn diễn tả được sự hoàn tất để nhận ra cộng đoàn những người thuộc về Đấng Mêsia 19,25-27 khi Đức Giêsu trao thánh Gioan cho Mẹ Ngài. Động từ “hoàn tất” chứng tỏ sự tái sinh mới đã được thực hiện. Hay nói đúng hơn động từ “hoàn tất” mở ra và kết thúc cho lời “Tôi khát” cho thấy việc tái sinh không bị khép lại khi Đức Giêsu chết, nhưng được mở rộng hơn[27].

3. Cơn khát cứu độ hết mọi người

Khi Đức Giêsu khát thực thi Thánh Ý Chúa Cha, đó cũng là cơn khát giải thoát cứu rỗi mọi người. Bởi vì, trước khi thốt lời “Tôi khát”, tác giả thuật lại cho ta biết rằng: “Đức Giêsu biết rằng mọi sự đã hoàn tất” (x. Ga 19,28). Tác giả sử dụng ngôn từ rất đắt đỏ với động từ “biết”. Đây là cái biết thấu hiểu, cái biết giải thoát, cái biết cứu độ. Cái biết đó chính là cái biết thấm đẫm sự hiệp thông thần linh, cái biết của sự ứng nghiệm Kinh Thánh trong cuộc đời của Ngài. Ngài ý thức thẳm sâu về những đớn đau, khổ ải, ruồng rẫy, đang cận kề Ngài, nhưng những khổ đau đó, không làm nhụt chí. Bởi vì dựa vào trong chính bản văn biến cố về Giờ của Tin mừng thứ tư, ta thấy ở ngay giữa cơn cùng khốn đớn đau thậm chí đối diện với đớn đau thê thảm trên thánh giá thì ta đã thấy tràn trề sự sống dâng tràn[28]. Khi Đức Giêsu nói: “Thế là đã hoàn tất. Ngài gục đầu xuống và trao Thần Khí” (19,30).

Rõ ràng, trong bầu khí này ta hiểu được rằng khi Đức Giêsu khát, ấy là Ngài khát tặng ban ơn cứu rỗi cho hết thảy mọi người. Động từ “hoàn tất” ở trong khung cảnh này đang diễn tả tình yêu cứu rỗi trọn vẹn của Đức Giêsu dành cho các môn đệ của mình: Trước lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha, Ngài vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian và Người yêu thương họ đến cùng (13,1). Ngài khát con người: không phải khát thứ nước từ đất, mà là khát tình yêu thương giải thoát[29]. Động từ “Khát” có một giá trị vĩnh cửu. Cơn khát của Chúa Giêsu là không bao giờ hết. Vượt lên trên cơn khát về thể lý, đó còn là cơn khát cứu độ toàn thể nhân loại. Cơn khát này có mối liên hệ chặt chẽ với cuộc khổ nạn và phục sinh của Chúa Giêsu.

Chính trong chiều hướng này, ta được soi sáng cho cơn khát của Đức Giêsu trong cuộc đối thoại với thiếu phụ Samaria ở bờ giếng Giacóp (x. Ga 4). Đức Giêsu khát mang ơn giải thoát, mang mạch nước Hằng Sống tới cho mọi người. Nước Hằng Sống đã được tặng ban, ai khát, người đó tới đón nhận thì sẽ được sống (x. 7,37-39).

Như vậy, Đức Giêsu nói Người khát. Người sẽ khát mãi mãi, khát những anh em nhân loại này mà Người đã đến để chịu đau khổ và chịu chết cho họ. Người là Đấng vượt quá tất cả những gì con người có thể nói lên được, Người là tình yêu hiện thân. Người là sự khát khao. Người mong muốn lôi kéo tất cả về với người. Như thế, “khát” vọng của Đức Kitô, hay cơn khát núi sọ của Người, không phải chỉ là vinh hiển của Cha theo lý tưởng, mà về thực tế còn là phần rỗi của các linh hồn nữa, tức còn là sự sống đời đời của các linh hồn, những hoa trái thiêng liêng mà cuối cùng cũng qui về cho vinh hiển Cha (x. Ga 15,8).

Tóm lại, khi chiêm ngưỡng Đấng Chịu Đóng Đinh trên thập giá thốt lời “Tôi khát” (Ga 19,28), ta nhận ra rằng: Ngài đang thực sự là một người sống động, Ngài khát thật trong con người trọn vẹn của mình. Hơn nữa, trong thẳm sâu, Đức Giêsu khát cơn khát chu toàn thánh ý Chúa Cha (4,34), “khát” chén mà Chúa Cha đã trao cho Người uống (18,11b). Khi đón nhận  lấy chén của cái chết, chua như giấm, và bằng chính cái chết, Đức Giêsu hoàn thành công trình đã được giao phó: giải thoát mọi người, quy tụ mọi người tản mát về cho Chúa Cha. Lời cuối cùng của Người “mọi sự đã hoàn tất”, có nghĩa Người đã hoàn thành tốt đẹp sứ mệnh của mình. Và thật lạ, ngay giây phút trút hơi thở, thì cũng là lúc Đức Giêsu tặng ban sự sống: “Ngài trao Thần Khí” (x. Ga 19,30). Lúc ấy, Chúa Giêsu “nghiêng mình” trên Giáo Hội mới khai sinh mà đại diện là thân mẫu Người và người môn đệ quý yêu, và trao cho họ thần khí làm gia nghiệp.[30]

II. “TÔI KHÁT” ĐẾN VÀ Ở LẠI

1. Đức Giêsu nói lời Tôi khát với ai?

Những lời sau cùng của Đức Kitô, đặc biệt là lời “Tôi khát” (x. Ga 19,28) là một nhắc nhớ đầy tâm tình cảm kích về tấn bi kịch Golgotha. Do lòng nhân ái, Chúa Cứu Thế đã để lại cho ta những chúc ngôn của Ngài. Ngài là đại diện cả loài người. Cho nên trong giờ trọng đại đó lời Ngài phán ra được giữ lấy làm bài huấn giới và làm lời an ủi ngàn đời. Chưa hề có nhà giảng thuyết nào so sánh được với Chúa Kitô hấp hối, chưa hề có đám thính giả nào giống như đám người chen chúc nhau chung quanh diễn đài Thập giá, chưa hề có bài giảng thuyết nào giống những lời cuối cùng của Đức Kitô. Những lời cuối cùng của Ngài không bao giờ mai một, khác hẳn những lời của các kẻ hấp hối khác. Lời này vang dội vào tai đám thính giả đông đảo; tiếng vang dội lan qua ngọn đồi Giêrusalem xuyên thấu những góc cùng hiểm hóc của tâm trí nhân loại, đến độ thức tỉnh cả những kẻ chết nằm trong mồ. Ngay bây giờ, những lời đó còn phải được tâm hồn bần bách của chúng ta tiếp nhận, để giải quyết xem chúng ta có còn muốn được tình yêu của Chúa Cứu Thế lôi cuốn nữa không. Canvariô là ngọn núi mới đầy hấp dẫn, nơi đây không phải là Satan dụ dỗ Chúa Kitô, mà là Chúa Kitô dụ dỗ chúng ta để lôi cuốn chúng ta đến vui hưởng thứ tình yêu khác hẳn mọi thứ tình yêu khác.[31]

Trong khung cảnh của đồi Golgotha lúc này có đầy đủ nhân loại đang hiện diện, nào là các thượng tế, kinh sư, luật sĩ, kẻ thù địch, kẻ tội lỗi, kẻ lành thánh, các tầng lớp dù giàu sang hay nghèo khó, dù già, dù trẻ, dù binh lính hay nô lệ, Do Thái hay dân ngoại. Tất cả đều hiện diện chung quanh diễn đài Thập Giá Đức Kitô trong những giây phút cuối cùng của Ngài, giây phút linh thánh, giây phút giao thời giữa sự chết thể xác và sự sống thần linh được mở ra.

Tắt một lời, những từ ngữ của Đức Giêsu mời chúng ta tiếp tục tìm kiếm sự hoàn hảo của tình yêu. Chúng ta sẽ đạt tới sự viên mãn này vào lúc cuối và là lúc kết thúc. Thực ra, mỗi một lời nói của Đức Giêsu là một chặng đi sâu vào cách Người diễn tả tình yêu của Người đối với chúng ta:

Ngài muốn ngỏ lời “Tôi khát” trước tiên với những kẻ thù địch với Chúa: “Lạy Cha! Xin tha thứ cho chúng, vì chúng chẳng hiểu biết việc chúng làm” (Lc 23,34). Với lời này, tính nhân loại đã được vượt quá, thế nhưng không thể quan niệm một cái gì có nhân tính hơn, đồng thời còn xa hơn mọi thú tính sống theo bản năng và mọi thái độ có vẻ đóng kịch. Đây là lời tuyệt đỉnh của trí hiểu; lời ấy siêu vượt lòng thèm khát báo thù, siêu vượt cả sự ghê tởm và khinh khi, siêu vượt tất cả những gì theo bản tính tự nhiên; lời ấy cảm thông, tha thứ, ngay cả nỗi thống khổ và những dằn vặt của nó cũng không thể ảnh hưởng gì được trên sự công chính vô cùng thánh thiện của Người; từ cuộc chiến vô vọng này, thần trí đã thoát ra toàn thắng[32]. Ở đây, Đức Giêsu không nói với chúng ta, nhưng Người thưa với Cha của Người. Lời “Tôi khát” họ được nghe đó là ân sủng quà tặng mà Chúa muốn cho những kẻ thù địch với Chúa đó là tình yêu và lòng nhân ái nơi Ngài không bao giờ cạn vơi, dù sự chết gần kề, Ngài luôn muốn con người được ăn năn trở lại, Ngài luôn luôn khát khao các linh hồn.

Thứ đến, Ngài muốn nói với những kẻ tội lỗi: “Ngay hôm nay con sẽ được ở trên Thiên Đàng với Ta” (Lc 23, 43), đây là một tình yêu riêng hơn. Đức Giêsu nói với chúng ta, nhưng từ trên cao, như một vị vua. Lời “Tôi khát” vang lên là do lòng từ ái của Chúa Giêsu với con người hoàn toàn do tình yêu nhưng không của Thiên Chúa đối với nhân loại, với những con chiên lạc, những đứa con hoang đàng, những Mađalêna hư đốn, những Phêrô thống hối, những tên trộm cướp được tha thứ. Đó là cả một chuỗi lòng thương xót của Thiên Chúa: “Tội lỗi con có thắm như hồng điều, cũng sẽ lên trắng sạch như tuyết, có thắm như vải đỏ, cũng sẽ mịn muốt như lông chiên”; “Ta không đến để kêu gọi người công chính, nhưng để kêu gọi kẻ tội lỗi, không phải kẻ khỏe mạnh, mà kẻ bệnh tật mới cần lang y”.

Tĩnh mịch đêm khuya, khuê phòng vắng lặng, lời cầu ngất ngây, tất cả nhường chỗ cho Núi Sọ, bầu trời u ám và Con Ngài bị treo trên Thập Giá[33]. Trong giờ phút sau cùng của sự sống, Người muốn mặc khải và ngỏ lời thân thiết với những người thánh thiện “Thưa Bà, đây là Con Bà” (Ga 19,25-27). Đây là một bước xa hơn tiến vào tình thân mật: Đức Giêsu không còn nói với chúng ta như một vị vua, nhưng như một người anh em. Tuy nhiên, đây lại là niềm an ủi lớn, vì nếu lần truyền tin thứ nhất do thiên thần đem đến, thì lần truyền tin thứ hai lại do chính Chúa Giêsu phán ra: “Đây là con Bà”. Đức Maria, mẹ của Kitô giáo. Còn Gioan, đại diện tất cả giáo sĩ, tất cả giáo dân, những người muốn làm anh em của Đức Kitô. Từ thập giá, Đức Giêsu đã trối lại những người này làm con Đức Maria; và với các anh em của Người, Người trối lại một bà mẹ, mẹ của Giáo Hội, là Đức Maria. Giờ chết đã điểm. Nhưng Người đã thiết lập một sự hiệp thông sinh động sẽ không hề chấm dứt. Đức Kitô đến để thiết lập sự hiệp thông rộng lớn mà lại phải nếm cảnh phân ly triệt để. Vì Người kêu gọi anh em của Người trở về giao hòa lại với Cha, mà Người lại phải chịu mọi người khai trừ. Không phải chỉ bị tước lột hoàn toàn, mà con bị bỏ rơi hoàn toàn. Sau khi bị lột hết y phục, lại bị bỏ rơi giữa sự tối tăm, trên thập giá.[34]

Đức Giêsu bị nâng cao lên khỏi mặt đất, bị cách ly khỏi những người mà Người đã hết tình yêu thương: Người bị cô lập giữa trời và đất, không một sự an ủi từ loài người cũng như từ Thiên Chúa… Còn hơn cả lúc đứng trước dinh Philatô và lúc trên đường vác thập giá trên đồi Golgotha, Người sắp cảm thấy bị bỏ rơi cách triệt để, sắp cảm thấy sự ghê sợ rùng rợn vô cùng của đêm tối “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27,16).

Sự hoàn hảo của tình yêu nơi Đức Giêsu được diễn tả trong lời “Tôi khát” được ngỏ cho chính Ngài và cho chính Thiên Chúa Cha: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con?” (Mt 27,46; Tv 22,2). Thiên Chúa là Cha của Người đã hoàn toàn bỏ rơi Người như Thánh Vịnh 22 tiên báo về Người: “Ôi Chúa Trời của Tôi ơi, ban ngày Tôi kêu lên Chúa, Chúa chẳng lắng nghe, ban đêm Tôi kêu xin Ngài, Tôi vẫn ê chề”. Tại sao Thiên Chúa lại ác độc đến thế, nhất là đối với Người Con duy nhất của mình, không làm cho Con Mình được giãn khát? Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã hoàn toàn có lý khi cảm nghiệm được tình yêu điên cuồng của Thiên Chúa, khi ngài chia sẻ trong bức Thông Điệp “Deus Caritas Est – Thiên Chúa Là Tình Yêu” của ngài, ở đoạn 12 như sau: “Cái chết của Người trên Thập Giá là tột đỉnh của những gì làm cho Thiên Chúa quay ra chống lại chính Người, một thái độ Người hiến mình để nâng con người lên và cứu độ con người. Đó là tình yêu mặc một hình thức cực đoan nhất”. Thật ra, mặt trái của việc Thiên Chúa “quay ra chống lại chính mình”[35] lại là tình yêu, một tình yêu nên tốt và hoàn hảo và khi cương quyết bỏ rơi Con Mình, lại là tác động vô cùng cần thiết và quan trọng, đó là một nghịch lý trong việc làm cho Con của Ngài được hoàn toàn giãn “khát”, một cơn “khát” thiêng liêng chứ không phải thể lý.

Hơn hết, lời “Tôi khát” không những được nói với những người đứng dưới chân Thập giá, mà còn nói với những người theo những ngôn ngữ khác nhau mà trên bản án được ghi: “Giêsu Nadareth, Vua của người Do Thái” viết với ba thứ tiếng: Do Thái, Hy Lạp, Latinh, nhưng nay lời đó được nói với mỗi người sống đời sống lữ hành, không những thế còn được vang lên cho mọi thời để ứng nghiệm Kinh Thánh, và nên hoàn tất.

 2. Sự đáp trả lời “Tôi khát”

Sau khi Đức Giêsu nói lời “Tôi khát” ta thấy bản văn không nói rõ Đức Giêsu khát nước hay khát cái gì và ai đã đáp ứng lời Ngài? Nhưng dựa vào bản văn “Ở đó, có một bình đầy giấm. Người ta lấy miếng bọt biển có thấm đầy giấm, buộc vào một nhành hương thảo, rồi đưa lên miệng Người. Nhắp xong, Đức Giêsu nói: “Thế là đã hoàn tất!” (x. Ga 19,28-30). Thánh sử ghi diễn là “người ta”- tức là trong những người hiện diện dưới chân Thánh giá, phải chăng tác giả muốn mở ngỏ cho mỗi người năm xưa dưới chân Thánh giá cũng chính là cho mỗi chúng ta hiện nay.

Lời “Tôi khát” của Chúa Giêsu để làm ứng nghiệm câu Kinh Thánh, mời gọi ta trở về câu Thánh vịnh 69,21: “Thay vì đồ ăn, chúng trao mật đắng. Con khát nước, lại cho uống giấm chua”. Trở về với dấu lạ đầu tiên tại Cana, Đức Maria nói với Đức Giêsu: “Họ hết rượu rồi!” (Ga 2,3). Được nghênh đón tại tiệc cưới, Đức Giêsu đã tặng rượu cho con người, là hình bóng sức mạnh, niềm vui, rượu đỏ như máu, mạnh như máu. Lúc từ biệt tại bàn tiệc khổ hình, con người đã hiến cho Người thứ rượu đã trở thành giấm. Từ khi con người sa ngã, có cần trái đất phải quay để mọi sự vật cũng đổi thay như rượu chăng? Đức Kitô đã đến để tùng phục luật của sự sa ngã này, và để chịu đựng, để chịu thống khổ. Giờ chết đã đến, trong lúc anh em của Người phũ phàng phản bội Người, và Chúa Cha hoàn toàn bỏ rơi Người, hầu ơn cứu chuộc mới có thể được trọn vẹn[36].

Người đã cho rượu, thì nhận lại giấm. Lúc ấy Người thốt ra: “Thế là đã hoàn tất”. Mọi sự đã hoàn tất, cho đến cùng, cách trọn vẹn. Chính bản thân Người, cũng đã đến chỗ hoàn thành, vì đã hiến toàn thân cho con người. Người đã tự tách rời khỏi Thiên Chúa để hiến thân mình cho nhân loại. Người đã phó nộp máu mình, mà rượu tại Cana chỉ là một hình bóng. Người đã đổ máu ra, trong mồ hôi máu tại Vườn Cây Dầu, rồi đổ ra dưới những trận đòn, dưới vòng gai, dưới các cây đinh. Người đã hiến toàn thân mình thành của lễ toàn thiêu, cái thân mình được kéo căng ra trên thánh giá. Trước kia Người đã nói: Không có một dấu chứng tình thương nào lớn hơn là hy sinh tính mạng vì người mình yêu. Và Người đã tự hiến thân cho cái chết này. Mỗi người lãnh nhận sự sống từ Thiên Chúa, nên phải trả lại cho Người qua cái chết của mình. Không phải chịu cúi đầu trước định mệnh, nhưng là chịu làm theo ý muốn của Cha như một đứa con ngoan. Hướng cái chết của mình về Thiên Chúa với một thiện ý rất lớn: cái thiện ý mà lời xin vâng của Đức Maria và lời mọi sự đã hoàn tất của Đức Giêsu đã nói lên, cũng là tiếng Amen kết thúc mọi kinh nguyện của chúng ta thường đọc; tiếng bộc lộ sự ưng thuận và lòng cậy trông.

Ở tiệc cưới Cana, Người đã biến nước thành rượu thế nào, thì trên thánh giá, Người đã biến máu của Người thành rượu ban sự sống vĩnh hằng như thế. Ngài luôn thi thố lòng thương xót và dạ chạnh thương, cho dẫu người ta hững hờ và vô tâm. Nhưng trong Ngài có một thuộc tính là lòng thương xót và dạ chạnh thương, nơi Người vẫn cứ có một thuộc tính là khao khát mong mỏi. Nỗi khát khao mong mỏi của Người trên cây thánh giá- khát khao, mong mỏi, có nơi Người từ trước muôn đời, Người vẫn cứ sống bằng những nỗi khát khao ấy và sẽ còn sống những nỗi khát khao ấy mãi cho đến khi linh hồn cuối cùng được đưa lên tới hạnh phúc của Người. Tính cách khát khao mong mỏi này, cũng như dạ chạnh thương, phát xuất từ lòng nhân lành vô biên của Thiên Chúa[37]. Nhưng chính lòng nhân lành là trung tâm điểm của cơn khát thần linh. Cơn khát đó cứ tồn tại ở nơi Người, bao lâu chúng ta còn ở trong tình trạng cần đến Người, để cuốn hút chúng ta vào trong niềm hạnh phúc của Người- đó là về phía Đức Giêsu. Còn về phía con người, đã có rất nhiều người nghe được lời của Ngài, nhưng ít ai đáp trả lại được, hay chỉ hiểu đơn thuần là cơn khát thể lý, cơn khát nước và đã đưa giấm cho Chúa.

Các dịch giả đã hiểu là miếng bọt biển đã được cắm vào nhành hương thảo. Hương thảo là một loại cỏ; một cỏ ống được đút xuyên qua miếng bọt biển như một ống sậy, để Đức Giêsu có thể hút nước lên. Chúng đã nâng cái đó lên đến môi Người nhờ một cây giáo, một cây sào, một cây sậy. Thánh sử Gioan đã có ý viết là nhành hương thảo gọi nhớ về ngày lễ Vượt Qua đầu tiên, vào đêm mà các con cái Israel từ giã kiếp nô lệ Ai Cập. Người Israel phải giết chiên lễ Vượt Qua, lấy máu bôi lên cửa nhà để thiên sứ đi qua không vào nhà và được sống (Xh 12,22). Chính máu của con chiên đã cứu dân Chúa và chính máu Chúa Giêsu đã cứu thế gian khỏi tội. Cây hương thảo được nhúng vào máu con chiên để bôi lên đã ngang và trụ cửa, khiến người Do Thái nhớ lại máu cứu rỗi của con chiên Vượt Qua, đó là cách Gioan nói Chúa Giêsu là Con Chiên vĩ đại của lễ Vượt Qua mà Thiên Chúa đã sắm sẵn, và bởi sự chết của Ngài, cả thế gian được cứu. Giấm được pha nhiều nước là một thứ giải khát thông thường của lính tráng Rôma.

Nhìn khung cảnh của đất trời lúc bấy giờ, chỉ có Đức Giêsu là Đấng đang sống trong cảnh héo hon. Vì đã chịu lãnh nhận tất cả mọi trừng phạt trên bản thân mà Người đã bị con cái loài người loại bỏ, bị Thiên Chúa khai trừ. Đến tận đáy của cảnh bị ruồng bỏ. Đáng lẽ các người thân thuộc có thể lợi dụng cảnh tối tăm lạ lùng này để đến gần Người và làm giảm bớt cơn khát của Người. Nhưng vì tất cả đều rụng rời hồn vía, không ai đã nghĩ tới điều ấy. Sự cô đơn thật sự phải trọn vẹn[38]. Thánh sử Gioan không ghi rõ là ai đã đáp ứng “khát” của Chúa mà chỉ nói là “người ta”, tác giả muốn dành câu trả lời này cho mỗi độc giả. “Người ta” ở đây được mở ra cho chính mỗi người chúng ta, nhiều khi đáp lại cơn khát một cách hờ hững, nhẫn tâm bằng việc đưa giấm chua cho Chúa, và không đi vào tận cùng cơn khát sâu thẳm của Ngài.

Chúa Giêsu luôn làm chủ cơn khát của mình. Tin Mừng ghi lại sau khi được đáp ứng, Chúa Giêsu chỉ “nhắp xong”. Lời “Tôi khát” mang nghĩa khá mở rộng, bởi nó được hiện thực hóa cho chính mỗi con người đang sống trong thời đại hôm nay, lời đó đã vang lên cách đây gần hai nghìn năm, nay ta vẫn được nghe cùng lời đó được vang lên cho chính nhân loại hôm nay, mời gọi mỗi người đáp trả bằng chính cuộc sống của mình, một cuộc sống được ứng nghiệm lời Kinh Thánh vào trong chính đời sống.

CHƯƠNG III

LÒNG KHAO KHÁT CHÚA TRONG ĐỜI TU

Chúng ta đang sống trong một thế giới đang không ngừng tiến hoá. Là những con người không ngừng phát triển[39], cuộc sống chuyển mình theo dòng chảy. Bên cạnh những bất toàn, con người vẫn khát mong tìm về cội nguồn của yêu thương, khát vọng của tâm linh. Ở chương trước, ta đã lắng nghe tiếng vọng ngân của Đức Kitô trên thập giá: Tôi khát (x. Ga 19,28). Ở chương thứ ba này, chúng ta tiếp tục đào sâu hơn tiếng “Tôi khát” của Ngài nơi cuộc sống con người. Thực vậy, con người luôn khát khao đi tìm hạnh phúc mà hạnh phúc đích thực cần bắt đầu từ việc đi tìm Chúa trong chính Lời của Ngài được diễn tả nơi cộng đoàn và nơi bản thân. Khát vọng đó mời gọi ta hãy nhập cuộc song hành cùng Đức Kitô đi ra truyền giáo trong tâm thức sống với Tình Yêu.

I. KHÁT KHAO ĐI TÌM CHÚA

Trên từng bước đường cuộc sống, mỗi người đều có những khát vọng. Những khát vọng thì muôn hình muôn vẻ, có khát vọng bộc lộ mãnh liệt, có khát vọng âm thầm lặng thinh; có khát vọng đem lại sự sống niềm vui, nhưng có khát vọng dẫn đến sự huỷ diệt, tàn phá[40]. Vì thế, nghe bằng đôi tai không đủ, nhìn bằng đôi mắt chưa thoả, còn cần phải nghe nhịp đập của con tim, bằng sự nhạy bén của tâm hồn. Nhạy bén để rộng mở, cảm thông, để nghe và hiểu được niềm khát khao của con người là luôn khát khao đi tìm Chúa khởi đi từ Lời của Chúa, bằng việc chiêm ngắm Thiên Chúa trong Kinh Thánh. Và để Thiên Chúa dùng ta như khí cụ của Ngài trong con người mỏng dòn đầy sự khát vọng. Thứ đến, hãy nhìn đến tương quan nơi cộng đoàn, với những ai đồng hành và đi qua cuộc đời chúng ta ngày hôm nay, bằng nụ cười chân thành hay một cử chỉ thân thiện, một cái nhìn tích cực để cuộc đời này đẹp sáng hơn. Sau cùng, hãy nhìn về bản thân như một cuộc trở về. “Hãy là tôi” tràn trào khát vọng nên hoàn thiện mỗi ngày với việc hướng thượng và hướng tha dưới ánh sáng Lời của Chúa.

1. Tìm Chúa nơi Lời của Ngài

Con người được mời gọi đến với Lời của Thiên Chúa trong buổi bình minh ló rạng của lịch sử cứu độ. Khi chưa có thời gian và không gian thì Thiên Chúa Hằng Hữu. Thiên Chúa sáng tạo và quan phòng, Ngài ban cho con người một phẩm giá cao quý giống hình ảnh Thiên Chúa, hạnh phúc hơn nữa là chiều chiều Ngài đi dạo cùng con người. Quà tặng này bị cắt đứt khi con người sa ngã, nhưng Thiên Chúa nối lại bằng lời hứa ban ơn cứu độ (x. St 3,15). Sau khi con người phạm tội, tự chuốc cho mình sự đau khổ, phải vất vả, làm lụng để nuôi sống và sẽ phải chết vì không còn được sống trong ân nghĩa thân tình với Thiên Chúa, nên con người luôn khát khao đi tìm cho mình hạnh phúc đích thực là khát khao tìm Chúa.

Thiên Chúa mà chúng ta tìm kiếm không phải một ý niệm mơ hồ. Ngài không phải một vĩ nhân của lịch sử xa xưa, hay một vị thần linh dửng dưng với nỗi đau của kiếp người. Ngài là Thiên Chúa của Apraham, Ixaac và Giacóp (x. Xh 3,15). Lời của Ngài đã hướng dẫn dân sống qua tổ phụ Apraham, qua Môsê và luôn đồng hành cùng với dân trong những bước đi khó khăn thử thách trong sa mạc, khi thì cột mây, lúc cột lửa. Ngài luôn quan tâm chăm sóc các bậc tiền nhân của người Do Thái khi dân bị lưu đày từ Ai Cập trở về Đất Hứa. Tình yêu càng được biểu lộ rõ nét khi Ngài còn ban Giao ước trên núi Sinai, một điều luật tuyệt hảo đó chính là tình yêu- mến Chúa và yêu người.

Lời của Ngài không phải chỉ giành cho những người cổ thời Cựu ước mà Lời đó được nói lên rằng: Ngày hôm nay, anh em hãy nghe lời Chúa phán: chớ cứng đầu cứng cổ với Ta. Lời này muốn nói lên niềm khát khao của Chúa muốn cho dân Ngài được biết, dân mà Ngài đã tuyển chọn ở mọi thời, mọi nơi. Chúa đang nói với bạn là hãy khát khao sự thiện hảo. Vì Ta là Đấng Thánh (x. Lv 2). Tình yêu đạt tới đỉnh điểm khi Lời của Ngài được đặt trọn vẹn nơi Đức Giêsu Kitô. Hay nói cách khác, Đức Giêsu Kitô chính là Lời của Thiên Chúa, Lời tuyệt hảo độc nhất, Lời ấy có sức bẻ gãy gông cùm, phá tan xiềng xích.

Lời ấy khởi đi từ biến cố nhập thể, qua biến cố Mầu Nhiệm này mà con người đã đón nhận được ơn cứu độ. Nơi Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa đã mang gương mặt con người. Trời cao đã đến với đất thấp. Thiên Chúa đã có một danh xưng mới. “Hạnh phúc mà bạn kiếm tìm, hạnh phúc mà bạn có quyền hưởng có một tên, một khuôn mặt, đó là Đức Giêsu Nazareth” (Đức Bênêđictô XVI, 18-8-2005)[41].

Khát khao Chúa trong đời tu được sống động hoá trong chính việc tìm Chúa trong chính Lời của Ngài. Bởi, Lời Ngài là sức sống của con, Lời Ngài là ánh sáng đời con, Lời Ngài làm chứa chan hy vọng, là đường để con hằng dõi bước, Lời Ngài đượm chất ngất niềm vui, Lời Ngài hạnh phúc cho đời con[42]. “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” (Tv 118). Lời của Người luôn ở cùng con người, Lời của Ngài luôn giúp cho những người thánh hiến chiêm suy và là kim chỉ nam cho việc thăng tiến thiêng liêng. Lời của Ngài cũng thúc giục người viết luôn khát khao đi tìm gặp Chúa, luôn ước ao thuộc trọn về Ngài trong chính Lời Chúa. Lời mà Ngài muốn con người sống bằng chính con người thật của mình như chính Ngài đã sống và đã hoàn tất hy tế trên Thánh Giá.

Trong Đức Giêsu, Lời ẩn giấu nơi Thiên Chúa mang lấy xác phàm của chúng ta; Lời mang lấy con người cách tràn đầy ân sủng và toàn vẹn. Lời đã tự biểu lộ bằng ngôn ngữ của con người, ngôn ngữ của khát khao. Lời đã gợi lên sự sống thần linh bằng những từ ngữ thường ngày của chúng ta, cũng là những từ ngữ của các thi nhân, những từ ngữ của khát khao. Sự sống không thể đến gần được, không thể nhìn thấy được của Thiên Chúa nay trở nên cho chúng ta “nguồn nước”, “bánh sự sống”, “ánh sáng ban ngày”, “tiếng của gió”.

2. Tìm Chúa nơi cộng đoàn

Hiến chế Gaudium et Spes 1,2 nói lên sự liên kết của Giáo Hội với toàn thể gia đình nhân loại: “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo âu của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và của bất cứ ai đang đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo âu của các môn đệ Chúa Kitô”.[43]

Cộng đoàn là môi trường thánh thiện, trong đó có những con người đang trên đường nên thánh. Lời mời gọi của Chúa “các con hãy nên thánh vì Ta là Đấng Thánh” (x. Lv 19,2) đang rốt ráo gửi cho mọi người. Đối với những nữ tu, lời mời gọi này còn khẩn thiết hơn nữa. Cụ thể, nên thánh không chỉ là đời sống thiêng liêng, mà còn là kết quả của tâm hồn bình an nhận ra dung mạo của Đấng Tình Quân qua người nghèo, qua chị em, qua những công việc bổn phận hằng ngày.

Đời sống cộng đoàn là một trong những yếu tố làm nên đời tu trì. Như một Giáo Hội thu nhỏ, đã được Chúa Kitô thiết lập trên nền tảng Lời Chúa, được nuôi dưỡng bởi Giáo lý Phúc âm, Phụng vụ Thánh và nhất là Bí tích Thánh Thể. Cộng đoàn là môi trường lý tưởng để tăng triển đời sống thiêng liêng và đức ái của chị em.[44]

a. Cộng đoàn thờ phượng.

Cử hành phụng vụ nói lên sự hiện diện sống động của Chúa, nên các giờ thờ phượng của chị em phải được đặc biệt tôn trọng, chuẩn bị kỹ lưỡng và cử hành cách nghiêm trang sốt sắng về hình thức cũng như tâm hồn chu đáo. Chẳng hạn, điểm lại chương trình một ngày sống của nữ tu, nhất là các việc thiêng liêng, ta cảm thấy như một cái máy, ngày nào cũng vậy, ngày nào cũng thế, thật là nhàm chán theo nhãn quan của người đời. Nhưng, không, dưới lăng kính của người thánh hiến, ẩn sau những việc thiêng liêng đó lại có một sức hút huyền nhiệm bí ẩn sâu xa, nối kết được với tất cả mọi người, dù ở xa, ở gần, còn sống hoặc đã qua đời hay trên thiên quốc. Các giờ thiêng liêng ấy sẽ vượt qua mọi hàng rào ngăn cách để ân sủng của Chúa được biểu lộ.

Lời “Khát” của Chúa Giêsu đi vào trong Hội Dòng một cách mặc nhiên, có nề nếp, kỷ cương qua Luật Dòng, đặc biệt trong việc chị em được ký kết Giao ước thánh. Giao ước thánh ràng buộc nhưng lại hoàn toàn tự do, tự nguyện sống đời sống Vâng phục, Khiết tịnh và Khó nghèo. Đây được ví như đỉnh cao của cuộc đời Hồng ân Thánh hiến. Đó tất cả là tình yêu và ân sủng Chúa giành cho. Trái tim của Hội Dòng là Đức Kitô, vì chính Ngài đã trao môn đệ Chúa yêu cho Mẹ mình. Nay cũng chính trên Thánh Giá, Chúa Kitô trao Hội Dòng cho Mẹ Bảo Trợ và là dấu chỉ Thiên Chúa đã ban cho thời đại chúng ta: Thánh Giá Chúa Kitô – đó là dấu chỉ của mọi thời đại. Nhưng trong thời đại của chúng ta Thánh Giá của Chúa hiện diện lên như dấu hiệu hiển nhiên và quyết liệt. Thánh Giá Chúa Giêsu Kitô không phải là một hiện tượng trong quá khứ, nhưng là một thực trạng của hiện tại[45]. Chính trên Thánh Giá Đấng Chịu Đóng Đinh đã nói lên lời “khát” cho toàn thể vũ trụ và là dấu chỉ thời đại cho cơn khát của nhân loại.

b. Về đức ái huynh đệ.

Lời của Ngài vang lên “ở đâu có hai ba người tụ họp nhân danh Thầy, Thầy sẽ ở giữa họ” (Mt 18,20). Điều này khơi dạy nơi người viết nhận ra và cảm nghiệm được niềm yêu thích đời sống cộng đoàn được diễn tả qua thao thức tìm Chúa. Sống đời sống cộng đoàn là đi ra khỏi chính mình để gặp gỡ, nhưng gặp gỡ phải trổ sinh hoa trái thiêng liêng. “Đừng đầu độc những cuộc gặp gỡ bằng nọc độc nói hành nói xấu, đó chính là bệnh ngồi lê đôi mách[46]. Đấng Sáng Lập Dòng Mân Côi có viết:

Cùng là con Mẹ Mân Côi, chị em có bổn phận kính trọng và yêu thương nhau, sống quảng đại, cởi mở, biết hy sinh cho nhau, và hết sức tránh những nguyên nhân có thể gây chia rẽ bất hòa. Đằng khác, chị em luôn biết hòa mình vào nếp sống cộng đoàn, tích cực tham gia những sinh hoạt và công việc chung, vì ý thức rằng: càng tham dự sâu xa vào đời sống cộng đoàn, chị em càng được phát triển về mọi mặt nhờ năng động tập thể tốt, và nhờ những của cải tinh thần chị em san sẻ cho nhau trong đời sống chung.[47]

Người viết cảm nhận được niềm hạnh phúc của những người sống đời thánh hiến, điều này được nhìn rõ nét nhất mỗi khi cộng đoàn có chị em đau yếu sắp qua đời. Ngày ngày chị em luôn ở bên cạnh túc trực đọc kinh cầu nguyện. Mặc dù không cùng dòng máu và rất xa xôi nhưng đã được chính Đức Kitô quy tụ bằng việc chọn gọi. Và từ đó, ai cũng mang trong mình dòng máu Đức Kitô chịu Đóng Đinh, dòng máu trở thành nghĩa tử của Thiên Chúa, nhờ Đức Kitô, chính dòng máu này đã giúp chị em quên mình để phục vụ các chị em đau yếu như phục vụ chính Đức Kitô. Chị em đã đáp lại niềm khát khao của Chúa là cứu các linh hồn trở về với Chúa, chị em sống niềm khát khao của Chúa trên Thánh Giá bằng việc sống hiện diện cùng chị em trong những giây phút cuối của cuộc đời, không kể đêm hay ngày, luôn bên chị em đau yếu để các chị yên tâm lo cho mình những giây phút cuối. Có các chị em cầu nguyện liên lỉ bên cạnh dưới tác động của tình yêu Chúa Kitô qua lời chuyển cầu của Mẹ Mân Côi, để chị em sắp mãn phần được Chúa kéo về bên Chúa trong giờ hấp hối dưới sức mạnh của cộng đoàn. Với cái nhìn đức tin ấy, chị em thánh hoá những đau khổ tinh thần và thể xác, nhẫn nại chịu bệnh cách can đảm, kết hợp với những đau khổ của Chúa Kitô trên Thập Giá, để cầu nguyện cho các vị truyền giáo và cho các công việc Tông đồ của Dòng.

Cái có của Chúa Cha cũng là cái có của Chúa Con và những gì Chúa Con có thì cũng đều được Chúa Thánh Thần lấy để trao ban. Cũng vậy trong đời sống cộng đoàn, không có gì là của riêng, tất cả đều là của chung như Giáo hội thời kỳ đầu đã sống. Trong đời sống thường ngày của chị em, sống là để đi tìm Chúa trong vũ trụ. Chị em chu toàn công việc bổn phận thực hiện sự khát khao mong mỏi được gặp Chúa qua mỗi ngày đó chính là hồng ân sự sống trong việc chị em sống tốt, chân thành, yêu mến Chúa trên hết. Chị em đã thực hiện được bước nhảy của đời mình bằng lời Giao ước ký kết, tự tay đóng đinh đời mình vào Thập Giá… để chọn lấy cho mình một Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh.

Những lời trăn trối của Chúa Giêsu trên Thánh Giá, nói lên thao thức của Ngài về những giáo huấn mà Ngài giảng dạy trong suốt gần ba năm sống công khai, muốn được các tâm hồn quảng đại đáp trả và sống với tâm tình con thảo. Vì thế, cộng đoàn luôn là nơi chị em sống và cảm nghiệm Chúa hiện diện, nơi đây là một cộng đoàn đức tin được Chúa Kitô quy tụ, là cộng đoàn thánh chuyên lo việc của Chúa. Những công việc mà chính Chúa Giêsu đã làm, nay được Hội Dòng tái hiện trong đời sống thiêng liêng lo cho mình lánh riêng ra nơi thanh vắng cầu nguyện, cũng là nơi để chị em thực hành lòng bác ái, yêu thương qua việc truyền giáo, dạy giáo lý, nhất là giúp đỡ những người già cả neo đơn. Đấng Sáng Lập Dòng có viết:

Chị em Mân Côi còn lo phục vụ các chi thể đau khổ của Chúa Kitô bằng việc chăm sóc chữa trị người đau yếu bệnh hoạn, những trẻ nhỏ thiếu tình thương. Noi gương Chúa Giêsu xưa đã dành phần lớn cuộc đời hoạt động của Người để chữa trị bệnh tật và biểu lộ tình thươn cứu thế, chị em dấn thân trong công việc này với đầy tinh thần bác ái để tiếp tay với Người băng bó vết thương đau đớn trên thân mình Đức Kitô.[48]

3. Nơi bản thân.

Lòng khao khát Chúa trong đời tu nơi bản thân được thúc bách bởi Đấng là nguồn sống, là Đường, là Sự thật và là Sự sống. Thôi thúc bản thân chăm chỉ, rèn luyện, trau dồi để mỗi ngày một trưởng thành hơn và lớn lên trong ân nghĩa Chúa như chính Lời của Chúa đã dạy. Người viết noi gương Thầy Chí Thánh của mình là Mục tử Tốt lành cần nhiều giờ chiêm lặng mỗi ngày ngồi lại bên Chúa, nhận biết mình tội lỗi và quyết tâm ngày mai sẽ tốt hơn nhờ ơn Chúa giúp bằng việc năng nhớ đến Ngài trong từng hơi thở. Ngày nào cũng phải có tinh thần cầu tiến và có đam mê riêng, không những về việc học tập mà quan trọng hơn là đàng nhân đức thiêng liêng.

Chắc chắn con tim mỗi người luôn nghe được sự mách bảo nơi sâu thẳm là làm việc lành lánh điều dữ, khát khao tình thương lòng nhân hậu của Chúa. Và chính Chúa Giêsu cũng khát khao trở thành đền thờ sống động để con người gặp gỡ Thiên Chúa, và là nơi Thiên Chúa gặp gỡ con người. Vì thế trên Thánh Giá, Đức Giêsu đã nhạy bén trước tâm hồn hối cải của người trộm lành, Ngài đã ban ân sủng để thỏa lấp cơn khát của anh. Cơn khát yêu thương mà Ngài muốn dành cho nhân loại.

Ý thức về tội, nhận mình tội lỗi trước mặt Chúa, đó là một ân huệ lớn lao. Khi ta thực sự nhận mình là tội nhân, cùng lúc ta mở lòng cho nguồn ân sủng lớn lao của Thiên Chúa: “ở đâu tội lỗi ngập tràn, thì ân sủng chứa chan gấp bội” (Rm 5,20). Chỉ trong Chúa chúng ta mới tìm được bản sắc thực sự của mình. “Ánh sáng Đức Kitô chiếu tỏa trên khuôn mặt các kitô hữu và ánh sáng ấy phải lan đến những người khác”. Nhưng để ánh sáng Đức Kitô chiếu tỏa trên khuôn mặt, ta phải gặp gỡ, tiếp xúc với Người. Như Môsê tiếp xúc với Thiên Chúa, nên khuôn mặt ông trở nên sáng láng. Thực ra, khi ta tiếp xúc với Chúa cảm nhận đầu tiên là nhận biết mình tội lỗi[49]. Có nhận biết mình tội lỗi sám hối ta mới có thể bắt đầu đón nhận chính Chúa. Nhận biết mình tội lỗi, đồng thời cũng nhận biết tình thương và ơn cứu độ của Thiên Chúa.

Dưới ánh sáng của tình yêu, lòng khao khát Chúa trong đời tu nơi bản thân là khao khát được đi cùng Đức Giêsu trong suốt quãng đường từ Mầu nhiệm Nhập Thể tới Mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh đã được đánh dấu bằng những giây phút thinh lặng và cầu nguyện.[50]

Tìm Chúa còn được biểu lộ thực tế qua lòng đạo bình dân, hay “linh đạo bình dân”, một hình thức cầu nguyện bằng khẩu nguyện. Nó đúng là “một linh đạo nhập thể trong văn hóa của những người thấp hèn”. Nó là “một cách sống đức tin hợp lệ, một cách cảm nhận mình là thành phần của Hội Thánh và biểu lộ tư cách người truyền giáo”[51].

Người khao khát tìm Chúa là người sống động dấn thân, người quen sống với Chúa là một con người quân bình trong tình yêu. Họ vui tươi yêu đời, họ bình an, và hết sức người, như Đức Ktô, Đấng là người hơn người. Họ tỏa ra bầu khí cầu nguyện bởi vì họ đã cầu nguyện trong từng khoảnh khắc và họ tỏa ra mùi yêu thương, khiêm tốn, điềm đạm trong môi trường hoàn cảnh xung quanh[52].

Ở cùng bản thân là người thánh hiến – người viết không bao giờ thất nghiệp, ngay cả khi họ bị ốm liệt giường không thể làm gì được, người viết cảm nhận được một sức sống ở bên trong đó chính là lời cầu nguyện[53]. Cầu nguyện không chỉ cho bản thân, mà lời cầu nguyện  còn xuyên thủng thời gian và không gian hay vị trí địa lý dù xa ngàn dặm vẫn đến được với những người mà người viết cầu nguyện. Bên cạnh việc cầu nguyện, người viết còn được mời gọi dâng những hy sinh chịu đựng đau đớn để kết hợp với Chúa Giêsu trên Thánh Giá, một sự hiệp thông tình yêu, kết hợp trong máu thịt của Đấng chịu đóng đinh.

II. SONG HÀNH CÙNG ĐỨC KITÔ

Tục ngữ có câu “môn đăng hậu đối” hay “ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”. Xem ra người viết quá bạo dạn và liều lĩnh khi viết song hành cùng Đức Kitô. Bởi, Chúa Kitô là Con Thiên Chúa, và là Thiên Chúa, Đấng đầy quyền năng sáng tạo và quan phòng. Thế nhưng, Ngài đã ra khỏi chính mình, ra khỏi địa vị Thiên Chúa, khỏi gia đình của Ba Ngôi Thiên Chúa (x. Pl 2,6-8) để đến với con người. “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,14), một khoảng cách vô tiền khoáng hậu giữa đất và trời. Nay được nối kết nhờ lòng thương xót của Thiên Chúa nhờ Con Một Giêsu. Mặt khác, khi viết song hành cùng Đức Kitô người viết ý thức mình tội lỗi còn nhiều thiếu sót rất cần lòng nhân ái của Chúa lấp đầy. Bởi, nếu bàn chân Chúa bước trước, bàn chân con theo sau, con lo rằng con sẽ phản bội và trốn tránh Chúa mỗi khi gặp khó khăn vì nghĩ rằng Chúa đi trước không nhìn thấy con. Còn nếu con đi trước Chúa, con sợ rằng con không biết đường biết hướng. Lý luận nghĩ suy nơi con người là thế. Nhưng song hành cùng Đức Kitô sẽ cho ta câu trả lời vì “Ngài bao bọc con cả sau lẫn trước, bàn tay của Ngài, Ngài đặt lên con, mọi nẻo đường lối con đi Chúa thông suốt cả” (x. Tv 139,5). Cùng Đức Kitô, người viết khát khao được dấn mình bước cùng Giêsu và được Ngài cầm tay dắt đi trên đường nẻo Chúa. Và để trở thành môn đệ của Chúa Kitô điều kiện tiên quyết là vác thập giá mình mà theo. Vậy song hành cùng Đức Kitô sẽ khơi nguồn cho người viết khởi đi từ Thánh Giá và nhập cuộc với tâm tình của người môn đệ đi ra sống với Tình Yêu.

1. Khơi nguồn từ Thánh Giá

Nhìn lên Thánh Giá, con người nhận ra một thực tế phũ phàng, một sự trống rỗng không có gì khỏa lấp được. Đây là một sự thật không ai có thể tránh né, dù người đó là sang hay hèn, già hay trẻ, tri thức hay bần nông, không ai không bước qua, đó chính là cái chết – thẻ căn cước để bước vào một sự sống mới.

Nói đến Thánh Giá là nói đến con người bị treo trên đó, cũng như bao người từ trước bị kết án tử trên Thập Giá, nhưng tại sao con người này lại được lịch sử ghi diễn lại? Được những người hiến tẩy sùng mộ, yêu mến và tôn kính bằng chính cuộc sống của mình. Luôn được đặt ở vị trí trung tâm, sang trọng, để chiêm kính, thờ lạy nơi Đền Thờ, nơi Vương Cung, nơi Thánh Đường và nơi nhà ở của mỗi gia đình. Còn đối với người hiến thánh đó là đối tượng duy nhất- là Đấng Tình Quân bước cùng trong đời thánh hiến. Hay Con Người này đã để lại những tín thư từ Thập Giá. Chắc chắn là thế, và còn hơn nữa bởi Con Người này đã tự xưng mình là Con Thiên Chúa. Một sự thật vượt quá sự hiểu biết của loài người, với cái nhìn thực dụng của con người đã dẫn đến bắt nộp Ngài và đẩy Ngài đến cái chết thê thảm, cái chết nghèo, cái chết trong cơn khát hoàn toàn trần trụi như khi Ngài nhập thế đến lúc Ngài xuất thế. Thánh Giá Đức Kitô đã trở thành biểu tượng của Công Giáo.

Thinh lặng trước Thánh Giá, nghe Lời Ngài bằng tiếng động của sự sống, thính giả như nghe được tiếng vang lớn là niềm khát khao của con người trần trụi, nhưng tràn trề sức sống. Trước giờ hấp hối, Ngài vẫn khát khao dấn mình, thi thố tình yêu sâu thẳm và cứu vớt các linh hồn được ăn năn trở lại ở giây phút cuối của cuộc đời. Cơn khát của Ngài đã cứu anh trộm lành, cơn khát đó không phải là một cơn khát ép buộc. Mặc dù, Ngài muốn anh trộm dữ nhận ra lòng thương xót của Ngài nhưng Ngài vẫn tôn trọng tự do của anh. Đức Giêsu Con Thiên Chúa đã chọn cho mình một cái chết hèn hạ, sỉ nhục, nghèo, lấy cái nghèo của mình để cho con người được trở nên giàu có. Ngài đã thực sự trở nên nghèo để giống anh em mọi sự, ngoại trừ tội lỗi. Để cảm thông chia sẻ với cái nghèo của nhân loại, sự nghèo tình thương và lòng nhân ái.

Ngắm suy Thánh Giá tôi bước vào huyền nhiệm tình yêu, một bí ẩn sâu xa cần có nhiều thời gian nội tâm để khám phá mới hiểu được ý nghĩa thẳm sâu. Trong trạng thái bị treo trên Thánh Giá, Ngài luôn nổi bật con người hướng thiện của mình, một bài học của sự khiêm nhường tận căn. Đức Giêsu không nhìn ngang sang hai bên người đóng đinh cùng, hay nhìn lên hướng về trời cao xa, nhưng Ngài có một cái nhìn hướng về con người gần, hướng về tất cả nhân loại đang hiện diện dưới chân Thập Giá. Ngài nhìn trong tư thế gục đầu xuống với thân xác đau đớn bầm dập, tàn hơi kiệt sức nhưng Ngài vẫn giữ được nét thanh thoát và tươi mát[54]. Để giải tỏa cơn khát của mình, Ngài nhìn xuống nhân loại như gà mẹ đang nháo nhác tìm con qui tụ, ủ ấp con dưới cánh của mình (Is 66,13). Lúc ấy, Ngài muốn ta học cùng Ngài một bài học đắt đỏ: “Anh em hãy học cùng tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường trong lòng” (Mt 11,28).

Từ nơi Thánh Giá, khơi nguồn bài học của sự giang rộng, muốn quy tụ toàn thể mọi thụ tạo dưới cánh phượng hoàng nâng niu, như gà mẹ ấp ủ đoàn con (Mt 23,37). Thật là một nghịch lý: cái án tử trên Thập Giá là một sự ô nhục ê chề, thảm khốc nhưng đối với Thiên Chúa không có gì là không thể, Ngài đã biến Thập Giá nở hoa. Và Ngài cảm nhận một niềm vui sâu thẳm khi giang rộng cánh tay trên Thánh Giá. Ngài muốn điều tốt đến với tất cả nhân loại, hết mọi tội nhân đến với Ngài từ nay sẽ biết rằng họ sẽ được Ngài mở rộng vòng tay đón nhận vào nước Tình yêu của Ngài với con người tự do hoàn toàn của mình.

Nhìn ra thế giới với cánh cửa sổ của Thánh Giá, khơi dậy nơi độc giả dù đau khổ tột cùng, niềm hy vọng tràn trề, không bao giờ tuyệt vọng. Chính Ngài sẽ trao ban sức mạnh cho chúng ta từ cơn khát của Thập Giá, Ngài sẽ sinh chúng ta trong sự sống mới là Ngài trao “Thần Khí” cho ta để nảy sinh một sức sống tiềm tàng “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không thối đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình. Nhưng nếu thối đi, nó sẽ sinh nhiều bông hạt” (x. Ga 12,24).

Cơn khát của Đức Giêsu trên Thánh Giá đã phá vỡ bức tường ngăn cách của ngôn ngữ, của người giàu và người nghèo, của người khỏe mạnh và người yếu đuối, người ở xa và người ở gần, giữa người đang chịu đau khổ về thể xác và người đau khổ trong tâm hồn. Tất cả đều được tắm gội trong dòng chảy lòng xót thương của Đấng Chịu Đóng Đinh, tức thì “Máu cùng Nước chảy ra” (x. Ga 19,34), và cùng chịu một phép rửa của lệnh truyền Chúa Phục Sinh. Để tất cả nhân loại được nâng lên trong và qua Đức Giêsu mà đi vào vinh quang Thiên Chúa.

Song hành với cơn khát của Chúa Giêsu, ta được đánh thức bởi lòng nhân, sự thiện hảo của Ngài. Trước giờ chết, Ngài hoàn toàn ý thức và làm chủ được cơn khát của mình. Khơi nguồn từ Thánh Giá, Lời “Tôi khát” mãi luôn là lời đem lại sự sống, sự tốt lành, sự bình an cho người nghe: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm”. Lời đó đã đi vào hiện tại và không bao giờ bị lãng quên, luôn đầy năng lượng tình yêu của sự tha thứ. Lời “Tôi khát” còn là nguồn nghị lực giúp người kitô hữu tháp nhập vào cơn khát của Chúa để từ đó họ có khả năng sống lời kinh: “xin tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con” (x. Mt 6,9-13).

Lời “Tôi khát” vang lên trên Thánh Giá là dịp cho mỗi người có cơ hội tự vấn lòng mình, xem mình đã chịu khó khăn và đau khổ như thế nào. Đây cũng là một cơ hội để mình rà soát lại xem những thử thách và đau khổ có được chúng ta xích lại gần Đức Kitô hơn không. Nếu tôi sẵn sàng hợp tác cứu chuộc với Ngài, nếu tôi tận dụng những xung đột này để đền bù tội lỗi của mình. Chính trên Thập Giá chúng ta nhận ra một con người thật là Đức Giêsu Kitô khi mà thiên tính của Người bị che khuất hoàn toàn, một con người bị đóng đinh chặt vào Thánh Giá. Vậy mà đã nói lên niềm khát khao- tâm nguyện cứu rỗi toàn thể nhân loại. Điều mà cho đến lúc này bị coi là hình phạt nhục nhã và xấu hổ, lại trở thành cây sự sống và bậc thang vinh quang[55]. Hoa trái của Thánh Giá thúc giục mời gọi tôi sống với cơn khát của Đức Giêsu phải được hiện thực hóa ngay trong chính hiện tại bằng cảm nghiệm sự khát khao các linh hồn, khát khao tình yêu, và khát khao các tâm hồn quảng đại dâng hiến[56] bằng liên kết, hiệp thông với cơn khát của Chúa Giêsu mang ơn cứu độ đến với nhân loại.

2. Đi ra sống với Tình Yêu

Tình Yêu là một thứ ngôn ngữ mà bất cứ ai cũng có thể nhận ra. Nhắc đến Tình Yêu là một đề tài quen thuộc, nhưng lại rất mới lạ trong tâm hồn của mỗi người, bởi mỗi người đều thấy Tình Yêu là huyền nhiệm và ngôn ngữ bình thường dù dùng nhiều bao nhiêu, cũng không diễn tả được và càng không định nghĩa được. Nhưng điều người ta cảm nghiệm được nơi Tình Yêu là sự trung thành, tin tưởng, và hy sinh. Suy tư về chữ “Tình”, và chữ “Yêu” ta không thể nào lại không liên hệ đến một biểu tượng của đạo Công Giáo. Đó là Thánh Giá với chữ “T”, con người bị đóng đinh trên đó với chữ “Y”. Mời gọi thính giả đến với Tình Yêu Giêsu- “Hãy yêu như Giêsu, chết đi cho nhân gian, đóng đinh cho người mình yêu mến vv.[57]”.

Với điểm tựa là Tình Yêu khởi đi từ con đường Thập Giá, ta được mời gọi đi ra từ đau khổ đến sống với tình yêu, ra đi từ sự chết bước vào cõi sống, đi ra từ tuyệt vọng, bất lực đến những hy vọng tràn trề hoa trái. Đi ra trên hết là ra khỏi chính mình để tập trung vào Chúa Kitô chịu đóng đinh là điều độc giả khát khao đáp lại cơn khát của Chúa là sống với Tình Yêu. Nói cách khác, ra đi là sống Tin Mừng Thập Giá với Đấng chịu đâm thâu. Việc ra đi này không hề là một tai nạn ngẫu nhiên xảy ra, nhưng là dự án thần linh của Thiên Chúa. Dự án này là mặc khải vén mở con tim của Thiên Chúa, điều mà người đời không hề nghĩ tới và điều mà người đời mãi mãi hoảng sợ quay lưng thì chính nơi ấy Thiên Chúa đã quyết định chọn lựa để vén mở quyền năng của Ngài: “Thập Giá”. Thập Giá chỉ có hai từ giản đơn, đôi khi người đời dùng để đánh bóng làm đồ trang sức. Nhưng trong lịch sử, “Thập Giá” là nói đến hình phạt: đau đớn nhất, sỉ nhục nhất, cùng cực nhất, dành cho tử tù nguy hiểm nhất, độc ác nhất[58]. Ấy vậy mà, Thập Giá vẫn đứng vững theo dòng thời gian, đi vào trong huyền nhiệm của đời sống con người bởi có Đấng Chịu Đóng Đinh chết cho Tình Yêu “Thế giới vần xoay, Thập Giá vẫn đứng vững”.

Thập Giá sống động mời gọi mỗi người đến với những người nghèo khó, bệnh tật, già cả không nơi nương tựa, những trẻ em mồ côi ở các cô nhi viện… Chính Đức Giêsu trên Thánh Giá, hiện thân là một con người để đồng số kiếp, nên giống chúng ta mọi đàng, để cùng kêu lên lời “khát” thay cho những con người kém may mắn. Chính Ngài, nơi những mảnh đời vụn vỡ, khao khát cũng muốn được quan tâm, được yêu thương, được chia sẻ, được vỗ về bên gia đình và khi hoàn tất cuộc sống lữ hành cũng có những người thân bên cạnh, để trăn trối những khát khao mà khi sống chưa làm được. Và hơn hết, “cơn khát” của Đức Giêsu sẽ được thực hiện giữa muôn dân trong lời mời gọi rốt ráo “các con hãy yêu thương nhau, như chính Thầy đã yêu thương các con” (x. Ga15, 9-17). Điều giãn khát nơi Chúa là ta đến gặp gỡ và sống với anh chị em kém may mắn bằng tình yêu của Chúa và nhận ra Chúa nơi những người đó: “Niềm vui của Tin Mừng tràn ngập con tim và toàn bộ cuộc sống của người gặp gỡ Chúa Giêsu”[59].

Bước theo con đường Thập Giá, đòi buộc mọi người phải từ bỏ chỗ mình đang hiện diện: ở nơi gia đình, nơi công việc, nơi bạn bè, nơi phố phường, nơi hội họp, nơi hội đường, nơi đền thờ để đến với Chúa trên đồi Golgotha. Vì thế, xung quanh diễn đài Thập Giá có những cung bậc cảm xúc khác nhau người buồn kẻ vui, kẻ nhạo báng thích thú người thinh lặng đồng cảm, người hiền kẻ dữ, người tôn trọng kẻ phỉ báng, người muốn đến kẻ phải đến, kẻ bàng quang, người sâu sắc trước cái chết của Đức Giêsu. Mỗi người nhận ra mình cần có sự từ bỏ tận căn trần trụi như không có gì, để nhận ra cơn khát của Chúa trên Thánh Giá. Nhiệm vụ của chúng ta là xoa dịu cơn khát vô tận của Đấng là Thiên Chúa làm người trong việc tuân giữ lời khuyên Phúc Âm. “Tôi khát” ẩn chứa một điều gì đó sâu sắc bên trong những gì Chúa khao khát nơi chúng ta – thì lúc đó chúng ta mới có thể biết được Người muốn trở nên là ai đối với mỗi người hoặc muốn chúng ta trở nên là ai đối với Người.[60]

Theo đặc sủng Dòng Mân Côi, người nữ tu mang nơi mình sứ mệnh truyền giáo, hiện diện giữa lòng xã hội, liên đới với những người chung quanh để làm chứng cho Chúa và làm men giữa đời. Nhìn nhận mọi người là anh em trong Chúa, chị em mở rộng lòng đón tiếp tha nhân đến với mình nhất là những người nghèo khổ, bệnh tật[61]. Với đặc sủng của Hội Dòng chị em đã hiện diện nơi Trại Mù, nơi Trại Phong, và nhất là Hội Dòng có Bệnh Xá lớn để đón tiếp các bệnh nhân đến chữa ngoại trú cũng như nội trú, và phục vụ các bữa ăn cho bệnh nhân với phương pháp Giêsu để giúp họ nhận ra khuôn mặt nhân hậu của Chúa. Hơn nữa, còn tạo điều kiện cho mọi người có nhiều cơ hội được ở bên Chúa về mặt tinh thần, tin tưởng vào tình thương của Chúa trong mọi hoàn cảnh, giúp họ có không gian, thời gian để cầu nguyện, tham dự Thánh lễ. Khi tiếp xúc, gặp gỡ, đặc điểm nổi bật của người nữ tu là lòng bác ái phát xuất từ tình yêu tri kỷ với Chúa Kitô bằng lời nói, việc làm và bằng chính đời sống của mình.

Đức Thánh Cha Phanxicô có viết “ở đâu có tu sĩ ở đó có niềm vui”. Niềm vui gặp gỡ ra khỏi chính mình để sống với Chúa. Sống với người nghèo, là sống với sứ mạng của Tình Yêu. Người nghèo ở đây không những là những người nghèo về vật chất, nhưng đó còn là người nghèo về tinh thần, nghèo về sự cảm thông chia sẻ. Trên hết là người nghèo về nhận biết Chúa, và các giá trị Tin Mừng. Lòng khao khát Chúa trong đời tu thúc giục người viết muốn cho mọi người được biết Chúa bởi người viết được sống trong môi trường có quá nhiều người lương dân. Người viết chỉ biết cầu nguyện âm thầm, dâng lên Chúa những hy sinh để cầu nguyện cho họ được nhận biết Chúa. Điều thúc bách người viết cần phải “ra khỏi vùng đất tiện nghi của mình để đến với mọi vùng ‘ngoại vi’ đang cần ánh sáng Tin Mừng”[62].

Chúa Giêsu trên Thánh Giá đã hé mở cơn khát nhân loại cho những người dân ngoại là mỗi người chúng ta, cơn khát đó đang dày xéo người viết hãy đi ra để gặp gỡ như Chúa Giêsu ra khỏi chính mình. Tất cả nhằm để nối những nhịp cầu thẳm sâu giữa những tâm hồn con người. Ra khỏi chính mình để trở thành cây cầu hoàn hảo[63]. Là người sống đời thánh hiến đáp lại “khát” của Chúa Giêsu trên Thánh Giá, người viết được kêu mời mang trong con tim của mình tất cả sự khổ đau của thế giới. Hơn nữa, còn phải mang trong mình con tim của Chúa luôn thương yêu thế giới và muốn cứu vớt thế giới. Trên hết, phải học mang trong tâm hồn những tâm tình thâm sâu của Chúa trên Thánh Giá. Để lòng khao khát Chúa nơi mình được chân thành, được nói lên với tất cả con người mình cần phải mở rộng tâm hồn đón nhận Chúa và để cho mầu nhiệm của Ngài thấm nhuần vào mọi khía cạnh của cuộc sống qua những giờ cầu nguyện chiêm niệm sống đối diện với Chúa trong lòng mình.

Và sau cùng, cây Thánh Giá nơi treo Đấng Cứu Độ trần gian là cây của tình yêu, là cây của bác ái, là cây của tha thứ, là cây của hy sinh, và là cây của bình an. Mời gọi mỗi người lữ hành hãy trồng cây trong thế giới mình đang sống để hút lấy chất dinh dưỡng Agapê từ chính Suối Nguồn đem sức sống lại cho nhân loại. Trồng cây mà mình đang khát khao trong đời sống tích luỹ kho tàng trên trời, để cuộc sống mỗi ngày được hài hoà trong trật tự quan phòng của Thiên Chúa bằng việc chăm sóc âm thầm của đời sống cầu nguyện kết hợp với Đấng chịu đâm thâu. Và là hành trang được cắm rễ sâu trong cơn khát trên Thánh Giá của Đức Giêsu.

 

KẾT LUẬN

Lắng lòng thinh lặng trước Thánh Giá, mỗi người sẽ gặp một con người thật và là Thiên Chúa thật, Đức Giêsu Kitô. Trong mầu nhiệm Nhập Thể, Ngài chính là Ngôi Lời không những đã làm người, mà còn là một người như ta, sinh làm con một người phụ nữ, và sống dưới Lề Luật (Gl 4,4) – con bà Maria và ông Giuse, sinh tại Belem, làng Nazareth, xứ Giuđê, miền Galile, nước Do Thái. Ngài làm nghề thợ mộc, trải qua cuộc sống ẩn dật khoảng ba mươi năm, sống công khai rao giảng gần ba năm, chịu đóng đinh và chết trên Thập Giá thời quan Phongxio Philato. Riêng với tin mừng thứ tư, khi Đức Giêsu chịu chết, thì cùng lúc Ngài trao ban Thần Khí, sự sống được ban tràn lan cho nhân loại (x. Ga 19,30).

Chiêm ngưỡng Đức Giêsu trên Thập giá, thánh Ignatio thành Antiokia xác quyết: Đây là mầu nhiệm thần linh được hoàn thành trong sự thinh lặng kỳ vĩ của Thiên Chúa. Mầu nhiệm ở đây tiên vàn là mầu nhiệm về nguồn gốc thần linh của Đức Giêsu, bởi vì Ngài là Con của Chúa Cha, sinh bởi Chúa Cha vào cái ngày hôm nay của cõi vĩnh hằng (x. Tv 2,8). Tin mừng thứ tư không ngớt nhấn mạnh rằng nguồn gốc đích thực của Đức Giêsu là ở nơi Chúa Cha. Như thế, Đức Giêsu của lịch sử chính là Đức Kitô của lòng tin[64]. Trong chiều hướng này, GLHTCG quảng diễn: Những gì hữu hình trong cuộc sống trần thế của Đức Giêsu dẫn đưa chúng ta tới mầu nhiệm vô hình của địa vị Con Thiên Chúa và sứ mạng cứu độ của Ngài[65].

Riêng với người viết, khi chiêm ngưỡng Đức Giêsu trên Thập giá, lời “Tôi khát” (x. Ga 19,29) vẫn mãi vọng ngân. Và tất cả những nỗ lực suy tư ở trên là nhằm đào sâu ý nghĩa về lời “Tôi khát” này.

Chính nhờ Đức Giêsu cơn khát của một Thiên Chúa làm người được hiện tỏ, chỉ một mình Đức Giêsu đem đến cho con người sự no thỏa[66], “từ nguồn sung mãn của Người, chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác” (Ga 1,16). Ở chương I của luận văn, Đức Giêsu được sống động hoá chính là nguồn ban nước hằng sống. Đối với ai tin nhận Ngài thì nước hằng sống sẽ chảy từ trong lòng mình. Nói cách khác, Chúa Giêsu chính là nguồn nước hằng sống. Bởi chính Ngài đã sống trước cơn khát ở trên Thánh Giá, khi Ngài là lữ khách đến gặp gỡ và xin nước bên bờ giếng Giacóp. Chính cuộc gặp gỡ với Ngài đã giải toả cơn khát sự thật của người phụ nữ và đem lại niềm vui cho dân làng Samaria khi họ nhận ra Ngài là Đấng Mêsia họ đang mong chờ.

Với Đức Giêsu là người thật và là Thiên Chúa, Đức Giêsu đã sống trước cái chết của mình khi hiến trao tất cả trong Bí tích Thánh Thể. Giờ đây, trên Thánh Giá, “cơn khát” của Chúa Giêsu luôn là lời mở ngỏ cho tất cả mọi người. Thế nên, chương II đã trình bày cách đặc biệt về lời “Tôi khát” của Đức Giêsu. Đó là nỗi khát của Đức Giêsu, Ngài khát thật về thể lý, Ngài khát con người, Ngài khát chu toàn thánh ý Thiên Chúa, và Ngài khát mang ơn cứu độ cho nhân loại. Trong cô đơn tận cùng, Đức Giêsu khát tình yêu, khát các linh hồn cô đơn tội lỗi trở về với Chúa. Tình yêu Ngài đã vét cạn cho ta, nên Ngài khao khát chính ta. Ngài đang chờ trái tim ta mở rộng cho nỗi khát khao của tình yêu Ngài. Ở chương II này – Đó là nội dung chính yếu của luận văn. Cơn khát của Chúa là vô tận, thì loài người khao khát Thiên Chúa cũng là vô tận. Cơn khát ấy đang chất vấn tôi có cảm nhận được cơn khát của Chúa để sẵn sàng chia sẻ cơn khát vô tận của Người không? Cơn khát ấy đang vét rỗng tôi có kết hợp với Chúa để cùng khát cơn khát của Người, cùng đau nỗi đau của Người và cùng chết cái chết của Người không?

Ở lại bên Ngài, lặng nhìn sự sâu sắc của mầu nhiệm và sức mạnh của tình yêu đã thực hiện được một sự biến đổi kỳ diệu tình yêu đến từ Chúa Cha đi qua con tim của Đức Giêsu và biến một sự kiện nhục nhã bi thương thành suối nguồn hồng ân vô tận. Lời “khát” của Đức Giêsu trên Thánh Giá là lời của một con người khát thật. Nơi đó, Đức Kitô đến gặp mọi người, Người đi bước trước trong việc tìm chúng ta, và xin nước uống. Chúa Giêsu khát, lời xin của Người xuất phát từ cõi sâu thẳm của Thiên Chúa, Đấng khát mong chúng ta. Cầu nguyện, dù chúng ta có biết điều này hay không, là cuộc gặp gỡ giữa sự khát khao của Thiên Chúa với sự khát khao của chúng ta. Thiên Chúa khát khao chúng ta khao khát Ngài[67]. “Khát” này khơi dậy khát vọng sâu xa của con người, mang cho nó chiều kích vĩnh cửu của sự sống, dẫn con người vào trong sự viên mãn bằng cách đưa nó đến sự viên mãn của Thiên Chúa[68].

Và trong Đức Giêsu, để cho lòng khao khát Chúa trong đời tu được chân thành, đó là nội dung chương III mà chúng ta đã đề cập. Mỗi người được mời gọi mở rộng tâm hồn đón nhận Chúa và để cho mầu nhiệm của Ngài thấm nhuần vào mọi khía cạnh của cuộc sống. Nhờ đón nhận Chúa, mỗi ngày cuộc sống nên hoàn thiện, thế giới công bằng hơn, nhân đạo hơn và tình yêu sẽ rộng lớn hơn. Lý do là vì tình yêu của Đấng lên tiếng “Tôi khát” dành hết cho mọi người. Trên Thánh Giá bản án được ghi ba thứ tiếng, và không dừng lại đó, nên cho đến nay đã được mở rộng cho ngôn ngữ toàn thế giới với mọi dân tộc.

Thật vậy, rõ ràng trong cuộc đời dương thế, Đức Giêsu không đi giảng dạy cho người Hy Lạp; nhưng sau đó, nhờ mầu nhiệm vượt qua của Người, Người thật sự đi giảng dạy cho người Hy Lạp và các dân tộc khác nữa (x. Ga 12,0-24). Cốt lõi của mầu nhiệm Thánh Giá không phải là đau khổ mà là tình yêu, một thứ tình yêu trung thành và dâng hiến hoàn toàn cả trong đau khổ bạc đãi. Đau khổ là hoàn cảnh đặc biệt để tình yêu được tỏ bày. Tình yêu của Chúa Giêsu là thứ tình yêu cứu vớt đại đồng không bị giới hạn bởi những hàng rào và biên giới huyết tộc, tiếng nói, chủng tộc, phe nhóm[69]. Những lời của Đức Giêsu trên Thánh Giá biểu lộ một tình yêu mãnh liệt: Ngài biết thánh ý Thiên Chúa là điều tốt đẹp nhất. Ý Chúa là ý muốn chiến thắng sự dữ nhờ Thánh giá và Đức Giêsu chấp nhận ý muốn này, không phải là đơn thuần cam chịu, mà với nỗ lực của tình hiếu thảo.[70]

Khi khám phá ra được tình yêu, cuộc đời chắc chắn sẽ tươi sáng hơn, mọi người cùng tươi cười, ngay cả các khó khăn và đau khổ cũng đều trở thành một dấu chứng của tình yêu. Và mời gọi thính giả biết dấn thân vâng nghe thánh ý của Thiên Chúa trong Đức Kitô. Sự dấn thân này phải là bên trong, thuộc nội tâm, và phải trải rộng một cách kiên định ra mọi khía cạnh của đời sống chúng ta. Phải là một cái nhìn cho tình yêu và vì tình yêu. Tất cả cô đọng lại nơi sự khát khao thánh ý của Thiên Chúa như Đức Giêsu đã hoàn tất hy tế trên đồi Golgotha, hy tế Thánh Giá cơn khát của Đức Giêsu khát khao nhân loại là dấu chỉ của mọi thời đại.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Kinh Thánh trọn bộ Cựu Ước và Tân Ước, Hội đồng Giám mục Việt Nam Uỷ Ban Giáo Lý Đức Tin, Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ, Nxb. Tôn Giáo 2006.
  2. Điển ngữ Thần học Thánh Kinh, Phân khoa thần học giáo hoàng học viện Piô X Đà Lạt, Nxb. Tôn giáo 2016.
  3. Công Đồng Vaticanô II, Hiến chế Gaudium et spes, ngày 7.12.1965.
  4. Sách Giáo Lý Của Hội Thánh Công Giáo, Hội đồng Giám mục Việt Nam Uỷ Ban Giáo Lý Đức Tin, Tôn Giáo 2012.
  5. Youcat Việt Nam, GL HTCG cho người trẻ, Tôn Giáo – Hà Nội 2013.
  6. Đức Giáo Hoàng Phanxicô, Tông huấn Niềm Vui của Tin Mừng.
  7. Đức Giáo Hoàng Phanxicô, 15 căn bệnh trầm kha. https://phanxico.vn/2015/04/20/15-can-benh-cua-lanh-dao-theo-giao-hoang-phanxico/
  8. The New Interpreters Bible, Acommentary in twelve volumes, Abingdon Press.
  9. Alain Marchadour, Tin mừng Gioan, Chú giải mục vụ 1992.
  10. Albert Vanhoye SJ, Hãy đón nhận Đức Kitô vị thượng tế của chúng ta,
  11. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ, Suy niệm mùa Chay và PS,
  12. Carolo Maria Martini, Dưới ánh sáng của Tin Mừng Gioan, Lm Montfort Phạm Quốc Huyên chuyển ngữ, Nxb. Tôn Giáo 2015.
  13. Đôminicô Hồ Ngọc Cẩn, Hiến Luật – Nội Quy Dòng Mân Côi Bùi Chu.
  14. Ésloi Leclerc, Thầy dạy khát khao, Minh Anh chuyển ngữ, Nxb. Phương Đông, 2011.
  15. Fernando Ocáriz-Lucas F.Mateo Seco-José Antonio Riestra, Mầu Nhiệm Đức Kitô, Người dịch Lâm Văn Sỹ OP.
  16. Francis Fernandez, Đối thoại với Thiên Chúa.
  17. Fulton Sheen, Trên đỉnh cao Thập giá.
  18. Fx Vũ Phan Long, Các bài Tin Mừng Gioan, Nxb. Văn hóa thông tin 2010.
  19. Fx Xavie Nguyễn Văn Thuận, Đường Hy Vọng.
  20. Giuse Đinh Đức Đạo, Chứng nhân Tình yêu, Đồng Nai 2017, tái bản lần thứ I.
  21. Giuse Ngô Quang Kiệt, Này là Mình Thày, Lưu hành nội bộ.
  22. Giuse Ngô Quang Kiệt, Sống Lòng Thương Xót theo gương Mẹ Têrêsa, Tôn Giáo 2016.
  23. Giuse Ngô Quang Kiệt, Tân phúc âm hóa với Đức Thánh Cha Phanxicô, LHNB.
  24. Henri Pourrat, Cuộc khổ hình diễm phúc, tủ sách Tin 2004.
  25. James DiGiacomo, SJ & John Walsh, MM, Bước quyết định để gặp Chúa trong đời, Lm Lê Công Đức dịch, Nxb. Tôn Giáo 2009.
  26. Giuse Lê Minh Thông, Tin mừng Gioan. http://leminhthongtinmunggioan.blogspot.com/ 2013/03/ga-45-15-khat-nuoc-hang-ngay-khat-nuoc.html
  27. Hoàng Minh Tuấn, CSsR, Đọc Tin Mừng Gioan, Yêu đến cùng, Nxb. Tôn Giáo Hà Nội 2009.
  28. RATZINGER Joseph, Benedict XVI, Thông điệp “Deus Caritas Est – Thiên Chúa Là Tình Yêu“.
  29. Timothy Radcliffe, Bảy lời sau cùng của Đức Kitô, Nxb. Le Cerf, Paris 2004
  30. Vinhsơn Đinh Trung Nghĩa SJ, Văn chương Gioan, Antôn & Đuốc sáng 2015.
  31. Vinhsơn Mai Văn Kính, Môn Các thư Phaolô, Học viện Thần học Bùi Chu 2018.
  32. Vincent Mai Van Kinh, “C’est achevé” Ga 19.30, Anrt.
  33. Vinhsơn Mai Văn Kính, Môn Truyền thống Tin mừng Gioan, Học viện Thần học Bùi Chu 2017.
  34. William Barclay, Tin mừng theo thánh Gioan, Nxb. Tôn giáo 2008.
  35. Nguyễn Duy, Bài hát Lắng nghe Lời Chúa.
  36. Cao Huy Hoàng, Bài hát Xin Định Nghĩa Tình Yêu.
  37. http://leminhthongtinmunggioan.blogspot.com/2013/03/ga-45-15-khat-nuoc-hang-ngay-khat-nuoc.html.
  38. https://vi.wikipedia.org/wiki/M%E1%BB%93_h%C3%B4i_m%C3%A1u#cite_note-1.
  39. https://phanxico.vn/2015/04/20/15-can-benh-cua-lanh-dao-theo-giao-hoang-phanxico/

 

MỤC LỤC

LỜI TỰA.. 1

  1. Mục đích nghiên cứu. 1
  2. Phương pháp nghiên cứu. 2
  3. Bố cục Luận văn. 2

NỘI DUNG.. 3

CHƯƠNG I 

ĐÔI NÉT VỀ TIN MỪNG GIOAN  

  1. GIỚI THIỆU TIN MỪNG GIOAN.. 3
  2. Người được linh hứng. 3
  3. Tác phẩm văn chương. 3
  4. Giá trị ngôn từ. 4
  5. VÀI ĐOẠN VĂN TIÊU BIỂU VỀ “KHÁT” TRONG TIN MỪNG GIOAN.. 4
  6. Đức Giêsu và người phụ nữ Samaria Ga 4, 1-42. 5
  7. Nguồn mạch tuôn chảy nước hằng sống Ga 7, 37-39. 11

CHƯƠNG II 

TÔI KHÁT (Ga 19,28)

  1. CƠN KHÁT CỦA ĐỨC GIÊSU.. 14
  2. Cơn khát thể lý. 15
  3. Cơn khát chu toàn thánh ý Thiên Chúa. 17
  4. Cơn khát cứu độ hết mọi người 19
  5. “TÔI KHÁT” ĐẾN VÀ Ở LẠI 20
  6. Đức Giêsu nói lời Tôi khát với ai?. 20
  7. Sự đáp trả lời “Tôi khát”. 23

CHƯƠNG III

LÒNG KHAO KHÁT CHÚA TRONG ĐỜI TU  

  1. KHÁT KHAO ĐI TÌM CHÚA.. 26
  2. Tìm Chúa nơi Lời của Ngài 26
  3. Tìm Chúa nơi cộng đoàn. 28
  4. Nơi bản thân. 31
  5. SONG HÀNH CÙNG ĐỨC KITÔ.. 32
  6. Khơi nguồn từ Thánh Giá. 33
  7. Đi ra sống với Tình Yêu. 35

KẾT LUẬN.. 38

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

  1. Kinh Thánh
  2. Cựu Ước             b. Tân Ước

                        – St:     Sáng thế                                  – Mt:    Mátthêu

                        – Lv:    Lê vi                                        – Mc:   Máccô

                        – Xh:    Xuất hành                               – Lc:    Luca

– Tv:    Thánh vịnh                              – Ga:    Gioan

                        – Is:      Isaia                                        – Rm:   Rôma

            – 1 Cr: 1 Côrintô

            – Gl:    Galát

            – Pl:     Philípphê

            – Kh:    Khải huyền

  1. Giáo Hội

– ĐGH:            Đức Giáo Hoàng

– Lm:               Linh mục

– SGLHTCG: Sách Giáo lý Hội Thánh Công Giáo

 

  1. Một số từ khác

– x:                  xem

– tr:                  trang

– Nxb:              Nhà xuất bản.

– HC:               Hiến Chương

– LHNB:          Lưu hành nội bộ

– NQ:               Nội Quy

LỜI TRI ÂN

 “Uống nước nhớ nguồn”, “qua sông nhớ bến” lời của cha ông ta dạy con cháu biết trân quý những người đã hướng dẫn mình bằng tâm tình biết ơn. Theo dòng thời gian, lời này trở thành nét đẹp văn hoá truyền thống của người Việt Nam.

Lời cám ơn linh thiêng, lắng sâu và hiện thực nhất, con xin tạ ơn Thiên Chúa, tri ân Người đã gửi những vị rao giảng Tin Mừng Nước Chúa đến Truyền Giáo tại quê hương Việt Nam thân yêu, để đạo Chúa được hiển trị.

Tạ ơn Chúa! Con cám ơn bố mẹ và các em đã luôn giúp đỡ, lắng lo cho con, đặc biệt đã cùng sống đời tu với con qua lời cầu nguyện và làm gương sáng. Con cám ơn Cha chú Giuse Mai Văn Châu, người luôn cầu nguyện và dẫn con đến với ơn gọi tu trì. Cha là người đi trước dẫn đường và dặn bảo con “điều gì con muốn chị em làm cho mình, thì chính con hãy làm cho chị em như thế” (x. Mt 7,12), để ở đâu con cũng có được bình an và nhận ra tình thương của Chúa, sống với niềm đam mê yêu mến Chúa của mình.

Để con là người nữ tu của Chúa như ngày hôm nay, con xin cám ơn Mẹ Dòng đã cộng tác với Thiên Chúa sinh con ra trong ơn gọi thánh hiến Dòng Chị Em Con Đức Mẹ Mân Côi Bùi Chu. Hơn nữa, Mẹ Dòng còn lo cho con được đi học để mỗi ngày con được lớn lên trong ân nghĩa Chúa, biết trân trọng và làm cho Gia sản Dòng được phát triển.

Con xin chân thành cám ơn Đức Cha cố Giuse Hoàng Văn Tiệm, Đức Cha Tôma Vũ Đình Hiệu, Cha Giám đốc Giuse Vũ Ngọc Tứ, Cha Phó Giám đốc Vinhsơn Mai Văn Bảo, Quý Chị trong Ban Điều Hành cùng Quý Giáo sư Học Viện Thần Học Têrêsa Avila Bùi Chu. Các ngài đã hướng dẫn con trong suốt ba năm học và cho con không chỉ là những kiến thức khoa học thánh, mà còn cho con những kinh nghiệm sống tận tâm, nhiệt huyết của các ngài.

Lời cám ơn sâu sắc xin gửi tới Cha giáo Vinhsơn Mai Văn Kính. Cha đã thương nhận và hướng dẫn con làm bài luận văn. Con không quên lời cha nhắn nhủ: phải có lòng khao khát và giành nhiều giờ suy tư thinh lặng bên Chúa, để Thánh Thần Tình Yêu hướng dẫn con đi từng bước một cho đến lúc hoàn thành tất cả.

Nhìn lại chặng đường làm luận văn với đề tài “Tôi khát”, mặc dù con đã chăm chỉ cần cù để suy tư, nhưng chắc chắn vẫn còn nhiều hạn chế, rất mong quý Cha giáo và mọi người thông cảm.

Xin Thiên Chúa toàn năng ban phúc lành trên mọi Đấng bậc qua lời chuyển cầu của Mẹ Maria Mân Côi, cha thánh Giuse, và thánh bổn mạng Đôminicô.

Con xin tri ân!

Bùi Chu, ngày 28 tháng 04 năm 2018

M.Đôminicô Mai Thị Phương


[1] x. Vinhsơn Mai Văn Kính, Môn Truyền thống tin mừng Gioan, Học Viện Thần Học Bùi Chu 2017.

[1] Giuse Ngô Quang Kiệt, Tân phúc âm hóa với Đức Thánh Cha Phanxicô, LHNB, tr. 90.

[1] x.Vinhsơn Mai Văn Kính, Môn Truyền thống tin mừng Gioan, Học Viện Thần Học Bùi Chu 2017.

[1] x. Giuse Lê Minh Thông, Tin mừng Gioan. http://leminhthongtinmunggioan.blogspot.com/2013/03/ga-45-15-khat-nuoc-hang-ngay-khat-nuoc.html

[1] x. Fx Vũ Phan Long, Các bài Tin Mừng Gioan, Nxb. Văn hóa thông tin 2010, tr. 133.

[1] x. The New Interpreters Bible, Acommentary in twelve volumes, Abingdon Press.

[1] x. Vinhsơn Mai Văn Kính, Môn Truyền thống tin mừng Gioan, Học Viện Thần Học Bùi Chu 2017.

[1] x. Alain Marchadour, Tin mừng Gioan, Chú giải mục vụ 1992, tr. 126.

[1] x. Ésloi Leclerc, Thầy dạy khát khao, Lm. Minh Anh chuyển ngữ, Nxb. Phương Đông 2011, tr. 87.

[1] Giuse Ngô Quang KIỆT, Tân phúc âm hóa với Đức Thánh Cha Phanxicô, LHNB, tr. 75

[1] x. The New Interpreters Bible, Acommentary in twelve volumes, Abingdon Press.

[1] x. Vinhsơn Mai Văn Kính, Môn Truyền thống tin mừng Gioan, Học Viện Thần Học Bùi Chu 2017.

[1] x. Fx Vũ Phan Long, Các bài Tin Mừng Gioan, Nxb. Văn hóa thông tin 2010, tr 192

[1] x.William Barclay, Tin mừng theo thánh Gioan, Nxb. Tôn giáo – Hà Nội 2008, tr 210.

[1] Phân khoa thần học giáo hoàng học viện Piô X Đà Lạt, Điển ngữ Thần học Thánh Kinh, Nxb. Tôn giáo 2016, tr. 1029.

[1] x. Fx Vũ Phan Long, Các bài Tin Mừng Gioan, Nxb. Văn hóa thông tin 2010, tr. 196.

[1] Fx Vũ Phan Long, Các bài Tin Mừng Gioan, Nxb. Văn hóa thông tin 2010, tr. 197.

[1] x. Ésloi Leclerc, Thầy dạy khát khao, Lm. Minh Anh chuyển ngữ, Nxb. Phương Đông 2011, tr. 225.

[1] x. Timothy Radcliffe, Bảy lời sau cùng của Đức Kitô, Nxb. Le Cerf, Paris 2004.

[1] x. Vinhsơn Mai Văn Kính, Môn Truyền thống tin mừng Gioan, Học Viện Thần Học Bùi Chu 2017.

[1] x. Vinhsơn Mai Văn Kính, Môn Truyền thống tin mừng Gioan, Học Viện Thần Học Bùi Chu 2017.

[1] x. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ, Suy niệm mùa Chay và PS, 2016, tr 78.

[1] x. Ph. Hoàng Minh Tuấn, CSsR, Đọc Tin mừng theo thánh Gioan, yêu đến cùng, Nxb. Tôn Giáo – Hà Nội 2009, tr 239-243.

[1] Henri Pourrat, Cuộc khổ hình diễm phúc, tủ sách Tin, năm 2004, tr 220.

[1] x. https://vi.wikipedia.org/wiki/M%E1%BB%93_h%C3%B4i_m%C3%A1u#cite_note-1.

[1] x. Carolo Maria Martini, Dưới ánh sáng Tin mừng Gioan, Lm. Montfort Phạm Quốc Huyên chuyển ngữ, Nxb. Tôn giáo 2015, tr 117.

[1] x. Vincent Mai Van Kinh, “C’est achevé” Ga 19.30, Anrt.

[1] x. Vinhsơn Mai Văn Kính, Môn Truyền thống tin mừng Gioan, Học Viện Thần Học Bùi Chu, năm 2017.

[1] x. Ésloi Leclerc, Thầy dạy khát khao, Lm. Minh Anh chuyển ngữ, Nxb. Phương Đông, 2011.

[1] Alain Marchadour, Tin mừng Gioan, Chú giải Mục vụ, 1992, tr 450.

[1] x. Fulton Sheen, Trên đỉnh cao Thập giá, tr 8.

[1] Henri Pourrat, Cuộc khổ hình diễm phúc, Tủ sách Tin, năm 2004, tr 219.

[1] x. Fulton Sheen, Trên đỉnh cao Thập giá.

[1] Henri Pourrat, Cuộc khổ hình diễm phúc, Tủ sách Tin, năm 2004, tr 229.

[1] Ratzinger Joseph, Benedict XVI, Thông điệp “Deus Caritas Est – Thiên Chúa Là Tình Yêu“, đoạn 12.

[1] Henri Pourrat, Cuộc khổ hình diễm phúc, Tủ sách Tin, năm 2004, tr 241.

[1] x. Timothy Radcliffe, Bảy lời sau cùng của Đức Kitô, Nxb. Le Cerf, Paris 2004, tr 70.

[1] Henri Pourrat, Cuộc khổ hình diễm phúc, Tủ sách Tin, năm 2004, tr 237.

[1] James DiGiacomo, SJ & John Walsh, MM, Bước quyết định để gặp Chúa trong đời, Lm Lê Công Đức chuyển ngữ, Nxb. Tôn Giáo, năm 2009, tr 81.

[1] x. Giuse Ngô Quang Kiệt, Này là Mình Thày, LHNB 2017 , tr 107.

[1] x. Youcat Việt Nam, GL HTCG cho người trẻ, Nxb. Tôn Giáo – Hà Nội 2013, tr 33.

[1] x. Nguyễn Duy, Bài hát Lắng nghe Lời Chúa.

[1] Công Đồng Vaticanô II, Hiến chế Gaudium et spes, số 1, ngày 7.12.1965.

[1] Đôminicô Hồ Ngọc Cẩn, Hiến Luật – Nội Quy Dòng Mân Côi Bùi Chu, NQ 60, tr 172.

[1] x. Giuse Đinh Đức Đạo, Chứng nhân Tình yêu, Nxb. Đồng Nai 2017, tái bản lần thứ I, tr 14.

[1] x. Đức Giáo Hoàng Phanxicô, 15 căn bệnh trầm kha. https://phanxico.vn/2015/04/20/15-can-benh-cua-lanh-dao-theo-giao-hoang-phanxico/

[1] Đôminicô Hồ Ngọc Cẩn, Hiến Luật – Nội Quy Dòng Mân Côi Bùi Chu, HC 46, tr 76.

[1] Đôminicô Hồ Ngọc Cẩn, Hiến Luật – Nội Quy Dòng Mân Côi Bùi Chu, HC 59, tr 88.

[1] x. Giuse Ngô Quang Kiệt, Tân Phúc Âm hóa với Đức Thánh Cha Phanxicô, LHNB, tr 47.

[1] x. Giuse Đinh Đức Đạo, Chứng nhân Tình yêu, Nxb. Đồng Nai 2017, tái bản lần thứ I , tr 47.

[1] x. Đức Giáo Hoàng Phanxicô, Tông huấn Niềm Vui của Tin Mừng, LHNB 2013, số 124, tr 104.

[1] x. Carolo Maria Martini, Dưới ánh sáng của Tin Mừng Gioan, Lm Montfort Phạm Quốc Huyên chuyển ngữ, Nxb. Tôn Giáo 2015.

[1] x. Fx Xavie Nguyễn Văn Thuận, Đường Hy Vọng, số 119.

[1] x. Ph. Hoàng Minh Tuấn, CSsR, Đọc Tin Mừng Gioan, Yêu đến cùng, Nxb. Tôn Giáo – Hà Nội 2009, tr 261.

[1] x. Francis Fernandez, Đối thoại với Thiên Chúa, tr 378.

[1] x. Giuse Ngô Quang Kiệt, Sống Lòng Thương Xót theo gương Mẹ Têrêsa, Nxb. Tôn Giáo 2016, tr. 134.

[1] x. Cao Huy Hoàng, Bài hát Xin Định Nghĩa Tình Yêu.

[1] x. Mai Văn Kính, Môn Các thư Phaolô, Học viện Thần học Bùi Chu 2018.

[1] x. Đức Giáo Hoàng Phanxicô, Tông huấn Niềm Vui của Tin Mừng, số 1, tr 7.

[1] x. Giuse Ngô Quang Kiệt, Sống Lòng Thương Xót theo gương Mẹ Têrêsa, Nxb. Tôn Giáo, tr 136.

[1] x. Đôminicô Hồ Ngọc Cẩn, Hiến Luật – Nội Quy Dòng Mân Côi Bùi Chu, HC 54, tr 82.

[1] x. Đức Giáo Hoàng Phanxicô, Tông huấn Niềm Vui của Tin Mừng, Số 20, tr 23.

[1] x. Giuse Ngô Quang Kiệt, Tân Phúc Âm hóa với Đức Thánh Cha Phanxicô, LHNB, tr 120.

[1] x. Fernando Ocáriz-Lucas F.Mateo Seco-José Antonio Riestra, Mầu Nhiệm Đức Kitô, Lâm Văn Sỹ OP chuyển ngữ, tr 310, tr 15.

[1] Sách GLHTCG, số 515, Nxb. Tôn Giáo năm 2012, tr 163.

[1] x. Vinhsơn Mai Văn Kính, Môn Truyền thống tin mừng Gioan, Học Viện Thần Học Bùi Chu 2017.

[1] Sách GLHTCG, số 2560, Nxb. Tôn Giáo 2012, tr 710.

[1] x. Vinhsơn Đinh Trung Nghĩa SJ, Văn chương Gioan, Nxb. Antôn & Đuốc sáng 2015, tr 233-238.

[1] x. Giuse Đinh Đức Đạo, Chứng nhân Tình yêu, Nxb.  Đồng Nai, tái bản lần thứ I , tr 151.

[1] x. Albert Vanhoye SJ, Hãy đón nhận Đức Kitô vị thượng tế của chúng ta, Lưu hành nội bộ, tr 164.

[1] x. Vinhsơn Mai Văn Kính, Môn Truyền thống tin mừng Gioan, Học Viện Thần Học Bùi Chu 2017.

[2] Giuse Ngô Quang Kiệt, Tân phúc âm hóa với Đức Thánh Cha Phanxicô, LHNB, tr. 90.

[3] x.Vinhsơn Mai Văn Kính, Môn Truyền thống tin mừng Gioan, Học Viện Thần Học Bùi Chu 2017.

[4] x. Giuse Lê Minh Thông, Tin mừng Gioan. http://leminhthongtinmunggioan.blogspot.com/2013/03/ga-45-15-khat-nuoc-hang-ngay-khat-nuoc.html.

[5] x. Fx Vũ Phan Long, Các bài Tin Mừng Gioan, Nxb. Văn hóa thông tin 2010, tr. 133.

[6] x. The New Interpreters Bible, Acommentary in twelve volumes, Abingdon Press.

[7] x. Vinhsơn Mai Văn Kính, Môn Truyền thống tin mừng Gioan, Học Viện Thần Học Bùi Chu 2017.

[8] x. Alain Marchadour, Tin mừng Gioan, Chú giải mục vụ 1992, tr. 126.

[9] x. Ésloi Leclerc, Thầy dạy khát khao, Lm. Minh Anh chuyển ngữ, Nxb. Phương Đông 2011, tr. 87.

[10] Giuse Ngô Quang KIỆT, Tân phúc âm hóa với Đức Thánh Cha Phanxicô, LHNB, tr. 75

[11] x. The New Interpreters Bible, Acommentary in twelve volumes, Abingdon Press.

[12] x. Vinhsơn Mai Văn Kính, Môn Truyền thống tin mừng Gioan, Học Viện Thần Học Bùi Chu 2017.

[13] x. Fx Vũ Phan Long, Các bài Tin Mừng Gioan, Nxb. Văn hóa thông tin 2010, tr 192

[14] x.William Barclay, Tin mừng theo thánh Gioan, Nxb. Tôn giáo – Hà Nội 2008, tr 210.

[15] Phân khoa thần học giáo hoàng học viện Piô X Đà Lạt, Điển ngữ Thần học Thánh Kinh, Nxb. Tôn giáo 2016, tr. 1029.

[16] x. Fx Vũ Phan Long, Các bài Tin Mừng Gioan, Nxb. Văn hóa thông tin 2010, tr. 196.

[17] Fx Vũ Phan Long, Các bài Tin Mừng Gioan, Nxb. Văn hóa thông tin 2010, tr. 197.

[18] x. Ésloi Leclerc, Thầy dạy khát khao, Lm. Minh Anh chuyển ngữ, Nxb. Phương Đông 2011, tr. 225.

[19] x. Timothy Radcliffe, Bảy lời sau cùng của Đức Kitô, Nxb. Le Cerf, Paris 2004.

[20] x. Vinhsơn Mai Văn Kính, Môn Truyền thống tin mừng Gioan, Học Viện Thần Học Bùi Chu 2017.

[21] x. Vinhsơn Mai Văn Kính, Môn Truyền thống tin mừng Gioan, Học Viện Thần Học Bùi Chu 2017.

[22] x. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ, Suy niệm mùa Chay và PS, 2016, tr 78.

[23] x. Ph. Hoàng Minh Tuấn, CSsR, Đọc Tin mừng theo thánh Gioan, yêu đến cùng, Nxb. Tôn Giáo – Hà Nội 2009, tr 239-243.

[24] Henri Pourrat, Cuộc khổ hình diễm phúc, tủ sách Tin 2004, tr 220.

[25] x. https://vi.wikipedia.org/wiki/M%E1%BB%93_h%C3%B4i_m%C3%A1u#cite_note-1.

[26] x. Carolo Maria Martini, Dưới ánh sáng Tin mừng Gioan, Lm. Montfort Phạm Quốc Huyên chuyển ngữ, Nxb. Tôn giáo 2015, tr 117.

[27] x. Vincent Mai Van Kinh, “C’est achevé” Ga 19.30, Anrt.

[28] x. Vinhsơn Mai Văn Kính, Môn Truyền thống tin mừng Gioan, Học Viện Thần Học Bùi Chu 2017.

[29] x. Ésloi Leclerc, Thầy dạy khát khao, Lm. Minh Anh chuyển ngữ, Nxb. Phương Đông, 2011.

[30] Alain Marchadour, Tin mừng Gioan, Chú giải Mục vụ 1992, tr 450.

[31] x. Fulton Sheen, Trên đỉnh cao Thập giá, tr 8.

[32] Henri Pourrat, Cuộc khổ hình diễm phúc, Tủ sách Tin 2004, tr 219.

[33] x. Fulton Sheen, Trên đỉnh cao Thập giá.

[34] Henri Pourrat, Cuộc khổ hình diễm phúc, Tủ sách Tin 2004, tr 229.

[35] Ratzinger Joseph, Benedict XVI, Thông điệp “Deus Caritas Est – Thiên Chúa Là Tình Yêu“, đoạn 12.

[36] Henri Pourrat, Cuộc khổ hình diễm phúc, Tủ sách Tin 2004, tr 241.

[37] x. Timothy Radcliffe, Bảy lời sau cùng của Đức Kitô, Nxb. Le Cerf, Paris 2004, tr 70.

[38] Henri Pourrat, Cuộc khổ hình diễm phúc, Tủ sách Tin 2004, tr 237.

[39] James DiGiacomo, SJ & John Walsh, MM, Bước quyết định để gặp Chúa trong đời, Lm Lê Công Đức chuyển ngữ, Nxb. Tôn Giáo 2009, tr 81.

[40] x. Giuse Ngô Quang Kiệt, Này là Mình Thày, LHNB 2017 , tr 107.

[41] x. Youcat Việt Nam, GL HTCG cho người trẻ, Nxb. Tôn Giáo – Hà Nội 2013, tr 33.

[42] x. Nguyễn Duy, Bài hát Lắng nghe Lời Chúa.

[43] Công Đồng Vaticanô II, Hiến chế Gaudium et spes, số 1, ngày 7.12.1965.

[44] Đôminicô Hồ Ngọc Cẩn, Hiến Luật – Nội Quy Dòng Mân Côi Bùi Chu, NQ 60, tr 172.

[45] x. Giuse Đinh Đức Đạo, Chứng nhân Tình yêu, Nxb. Đồng Nai 2017, tái bản lần thứ I, tr 14.

[46] x. Đức Giáo Hoàng Phanxicô, 15 căn bệnh trầm kha. https://phanxico.vn/2015/04/20/15-can-benh-cua-lanh-dao-theo-giao-hoang-phanxico/

[47] Đôminicô Hồ Ngọc Cẩn, Hiến Luật – Nội Quy Dòng Mân Côi Bùi Chu, HC 46, tr 76.

[48] Đôminicô Hồ Ngọc Cẩn, Hiến Luật – Nội Quy Dòng Mân Côi Bùi Chu, HC 59, tr 88.

[49] x. Giuse Ngô Quang Kiệt, Tân Phúc Âm hóa với Đức Thánh Cha Phanxicô, LHNB, tr 47.

[50] x. Giuse Đinh Đức Đạo, Chứng nhân Tình yêu, Nxb. Đồng Nai 2017, tái bản lần thứ I , tr 47.

[51] x. Đức Giáo Hoàng Phanxicô, Tông huấn Niềm Vui của Tin Mừng, LHNB 2013, số 124, tr 104.

[52] x. Carolo Maria Martini, Dưới ánh sáng của Tin Mừng Gioan, Lm Montfort Phạm Quốc Huyên chuyển ngữ, Nxb. Tôn Giáo 2015.

[53] x. Fx Xavie Nguyễn Văn Thuận, Đường Hy Vọng, số 119.

[54] x. Ph. Hoàng Minh Tuấn, CSsR, Đọc Tin Mừng Gioan, Yêu đến cùng, Nxb. Tôn Giáo – Hà Nội 2009, tr 261.

[55] x. Francis Fernandez, Đối thoại với Thiên Chúa, tr 378.

[56] x. Giuse Ngô Quang Kiệt, Sống Lòng Thương Xót theo gương Mẹ Têrêsa, Nxb. Tôn Giáo 2016, tr. 134.

[57] x. Cao Huy Hoàng, Bài hát Xin Định Nghĩa Tình Yêu.

[58] x. Mai Văn Kính, Môn Các thư Phaolô, Học viện Thần học Bùi Chu 2018.

[59] x. Đức Giáo Hoàng Phanxicô, Tông huấn Niềm Vui của Tin Mừng, số 1, tr 7.

[60] x. Giuse Ngô Quang Kiệt, Sống Lòng Thương Xót theo gương Mẹ Têrêsa, Nxb. Tôn Giáo, tr 136.

[61] x. Đôminicô Hồ Ngọc Cẩn, Hiến Luật – Nội Quy Dòng Mân Côi Bùi Chu, HC 54, tr 82.

[62] x. Đức Giáo Hoàng Phanxicô, Tông huấn Niềm Vui của Tin Mừng, Số 20, tr 23.

[63] x. Giuse Ngô Quang Kiệt, Tân Phúc Âm hóa với Đức Thánh Cha Phanxicô, LHNB, tr 120.

[64] x. Fernando Ocáriz-Lucas F.Mateo Seco-José Antonio Riestra, Mầu Nhiệm Đức Kitô, Lâm Văn Sỹ OP chuyển ngữ, tr 310, tr 15.

[65] Sách GLHTCG, số 515, Nxb. Tôn Giáo năm 2012, tr 163.

[66] x. Vinhsơn Mai Văn Kính, Môn Truyền thống tin mừng Gioan, Học Viện Thần Học Bùi Chu 2017.

[67] Sách GLHTCG, số 2560, Nxb. Tôn Giáo 2012, tr 710.

[68] x. Vinhsơn Đinh Trung Nghĩa SJ, Văn chương Gioan, Nxb. Antôn & Đuốc sáng 2015, tr 233-238.

[69] x. Giuse Đinh Đức Đạo, Chứng nhân Tình yêu, Nxb.  Đồng Nai, tái bản lần thứ I , tr 151.

[70] x. Albert Vanhoye SJ, Hãy đón nhận Đức Kitô vị thượng tế của chúng ta, Lưu hành nội bộ, tr 164.

Trả lời